Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA TỆ NẠN XÃ HỘI CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Trong những thập niên cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, cộng đồng quốc tế đang phải đối phó với nhiều vấn đề nhứt nhối về TNXH mang tính toàn cầu. Dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng 4.0, cũng như chịu nhiều tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu, trái đất nóng lên, tài nguyên cạn kiệt, dịch bệnh gây chết người diễn biến khó lường đã làm gia tăng các TNXH với mức độ ngày càng tinh vi, phức tạp và nguy hiểm hơn trong đời sống, sức khỏe con người, gây thiệt hại to lớn về kinh tế, chính trị, an ninh xã hội của mỗi quốc gia. Chính vì vậy, vấn đề TNXH đã trở thành mối quan tâm của mọi quốc gia trên toàn thế giới và nước Việt Nam cũng không ngoại lệ.
Điều này đã thu hút nhiều nhà khoa học, các tổ chức quốc tế, cũng như trong nước quan tâm nghiên cứu và đề xuất giải pháp theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, hướng đến mục tiêu phòng, chống, chặn đứng, không để cho TNXH phát sinh, phát triển lan rộng ở mỗi quốc gia. Các nghiên cứu ở nước ngoài Các tổ chức thế giới như Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Y tế thế giới (WHO), chương trình kiểm soát ma túy quốc gia của Liên hiệp quốc (UNDCP) đã nhiều lần cảnh báo và phát động chiến dịch với quy mô toàn cầu, kêu gọi nhân loại chung sức, đồng lòng ngăn chặn và đẩy lùi TNXH, đem lại bình yên cho cuộc sống người dân. Đặc biệt, các TNXH trong học đường hiện nay trên toàn thế giới đang ở mức báo động, ngay cả đối với các quốc gia hàng đầu trên thế giới cũng rất đáng lo ngại [38]. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về TNXH và giáo dục về TNXH cho HS cũng trở thành một vấn đề cấp bách của mỗi quốc gia.
Những nghiên cứu của Tổng thư ký Liên hiệp quốc về tình trạng TNXH trong học đường cho thấy mức độ, quy mô của vấn nạn xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đây là nghiên cứu đầu tiên lớn nhất cung cấp một bức tranh toàn cảnh về các hình thức và qui mô của TNXH diễn ra trong các trường học [38]. Nghiên cứu chỉ ra rằng, TNXH không chỉ diễn ra ở trường học, nơi công cộng mà nó còn diễn ra ngay chính trong gia đình HS. Đánh giá tình trạng về TNXH trong các nhà trường ở Đông Nam Á và Châu Á Thái Bình Dương do UNICEF đã tiến hành nghiên cứu vào năm 2002 ở nhiều nước khác nhau như Australia, Trung Quốc, Combodia, Indonesia và Việt Nam [37].
Đánh giá đã cho thấy hiện nay dữ liệu về tình hình TNXH ở các quốc gia còn hạn chế. Sự cởi mở và nhận thức về vấn đề TNXH trong các nhà trường ở các quốc gia là khác nhau. Để có sự thay đổi nhận thức của người dân về vấn đề này cần có một thời gian nhất định và cần nâng cao nhận thức của chính các HS về TNXH. Trong báo cáo của tổ chức "Sáng kiến toàn cầu nâng cao nhận thức về tệ nạn xã 6 hội cho học sinh" cho biết, gần 3 trong 4 HS phải đối mặt với TNXH mỗi năm.
Ông Cornelius Williams, Trưởng Ban Bảo vệ Trẻ em của UNICEF cho biết “Nguy cơ vướng vào các loại TNXH ở HS phổ thông trên toàn thế giới thực sự rất đáng lo ngại [37]. Không chỉ tổ chức UNICEF có những nghiên cứu về vấn đề TNXH trong học đường mà còn rất nhiều các tổ chức, cá nhân trên thế giới đã có các cuộc điều tra nghiên cứu về vấn đề này, để từ đó có thể đưa ra những phương hướng hoạt động nhằm chấm dứt tình trạng này như nhóm Công tác toàn cầu chấm dứt TNXH ở thanh thiếu niên; hay tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển đã phát hành cẩm nang “Hãy tôn trọng! Đây là cơ thể tôi”; Dự án tuổi thơ – Chương trình phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em do cơ quan phát triển Australia (AusAID) tài trợ và Tổ chức Tầm nhìn thế giới (World Vision) thực hiện [38]. Theo một đạo luật mới được ban hành ở Anh Quốc, giáo dục TNXH trở thành môn học bắt buộc trong giáo trình giảng dạy của tất cả các trường học trên toàn quốc. Từ năm 2010 học sinh trong các nhà trường bắt đầu được giáo dục phòng chống TNXH với tên gọi của chương trình “Khóa học Nhà nước yêu cầu cho đến khi tốt nghiệp THPT”.
Chương trình học được chia làm 04 phần tương ứng với 04 độ tuổi. Các em sẽ được giảng dạy những điều căn bản về TNXH đang diễn ra xung quanh cuộc sống hàng ngày. Tại Malaysia thì trẻ em được giáo dục về TNXH cho trẻ em từ khi lên 5 tuổi. Chương trình học của các bé do Bộ phát triển Phụ nữ, Gia đình và Cộng đồng, Bộ Giáo dục, những chuyên gia và các tổ chức phi chính phủ biên soạn [37].
Tóm lại, trên thế giới đề tài nghiên cứu về TNXH đã được nhiều tổ chức, các nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra nhằm chấm dứt tình trạng TNXH gây ảnh hưởng tới các nhà trường. Các nghiên cứu ở Việt Nam Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến hoạt động GDPN TNXH được thể hiện trong Luật phòng chống ma túy và các Nghị quyết, Chỉ thị, văn bản chỉ đạo về GDĐT. Trong những năm gần đây các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu của Bộ Công an, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia, …đã có nhiều công trình nghiên cứu về phòng chống TNXH dưới nhiều nội dung, hình thức và khía cạnh khác nhau. Một số nghiên cứu điển hình như sau: - TTXH ở Việt Nam: thực trạng, nguyên nhân và giải pháp (Lê Thế Tiệm và đồng nghiệp năm 1994)[28].
- Luận cứ khoa học đổi mới chính sách xã hội nhằm đảm bảo an ninh xã hội và khắc phục TNXH (Lê Thế Tiệm và đồng nghiệp năm 1994) [27]. - Hoạt động của các lực lượng Công an nhân dân trong phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội trong tình hình hiện nay. Luận án tiến sĩ Luật học, Hà Nội, 2000. - Phòng chống ma túy trong nhà trường (Vũ Ngọc Bừng – Năm 1997) [8].
- TNXH và các giải pháp đấu tranh phòng chống. Tham luận hội thảo đề tài KX. - Mại dâm và phòng chống mại dâm (Bùi Toản – Tạp chí Công an nhân dân số 5 - 1996) [31]. 7 - Mại dâm, ma túy, cờ bạc, tội phạm thời hiện đại (Nguyễn Xuân Yêm, Phạm Đình Khánh, Nguyễn Thị Kim Liên, NXB Công an nhân dân năm 2003, Hà Nội) [41].
- Hiểm họa ma túy và cuộc chiến đấu mới (Nguyễn Xuân Yêm, Trần Văn Luyện, Nguyễn Thị Kim Liên, NXB Công an nhân dân năm 2003, Hà Nội) [40]. - Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm (Nguyễn Xuân Yêm, NXB Công an nhân dân, năm 2001, Hà Nội) [39]. - Đề tài KX 0414 “Nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân và giải pháp phòng chống TNXH và tội phạm” của Tổng cục cảnh sát – Bộ Công an năm 2000 [29]. - Thực trạng và các giải pháp phòng ngừa các TNXH trong sinh viên hiện nay (Trần Quốc Thành, NXB Đại học sư phạm Hà Nội, năm 2000, Hà Nội).
- Tăng cường đấu tranh phòng, chống TNXH bằng pháp luật trong giai đoạn hiện nay (Luận án tiến sĩ luật học, 2001, của Phan Đình Khánh, Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh). - Thử nghiệm các giải pháp phòng ngừa TNXH trong sinh viên hiện nay (Trần Quốc Thành, NXB Đại học sư phạm Hà Nội, năm 2004, Hà Nội). - Các tài liệu băng hình, bài viết… trong các hội nghị, hội thảo đã được đăng trên tạp chí của ngành Công an, Tòa án, Kiểm sát, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật thuộc Viện Khoa học và Nhân văn Quốc gia, Ủy ban phòng chống AIDS; Vụ công tác HS, sinh viên của Bộ GDĐT; các bài giảng trong các học viện, nhà trường. Trong các nghiên cứu trên đây đều tập trung đề cập đến thực trạng TNXH hiện nay xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Trong đó, nhiều tác giả khẳng định hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu, rộng nhằm không ngừng nâng cao vị thế và phát triển của đất nước trên thế giới, đồng thời cũng làm gia tăng việc đưa vào nước ta những TNXH mới du nhập từ bên ngoài. TNXH này làm ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh, chính trị và sự phát triển đất nước. Để ngăn ngừa, hạn chế tối đa sự xâm nhập, phát sinh, phát triển của TNXH, nhiều tác giả đã đưa ra những giải pháp quan trọng, giúp mọi lực lượng xã hội cùng chung tay đẩy lùi TNXH đó. Trong các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thế hệ trẻ là đối tượng rất dễ mắc phải các TNXH do xâm nhập từ bên ngoài vào Việt Nam.
Ngoài việc sử dụng pháp luật để đấu tranh với TNXH này, việc giáo dục phòng chống TNXH trong thanh thiếu niên là việc làm hết sức quan trọng. Tuy vậy các công trình nghiên cứu phòng chống TNXH kể trên, hầu hết đi sâu nghiên cứu những vấn đề chung về TNXH. Ví dụ như: - Sổ tay công tác phòng chống HIV/AIDS, NXB Giáo dục, Hà Nội. - Ma túy và những vấn đề về kiểm soát ma túy, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.
- Mại dâm, ma túy, cờ bạc, tội phạm thời hiện đại, NCB Công an nhân dân, Hà nội (2003). Như vậy, các nghiên cứu nói trên vẫn còn rất ít nội dung dành riêng cho công tác giáo dục phòng chống TNXH vào trong học đường, nhất là công tác quản lý hoạt động GDPN TNXH cho HS của Hiệu trưởng các trường THPT còn nhiều hạn chế, bất cập. 8 Hiện nay, công tác quản lý hoạt động GDPN TNXH cho HS các trường THPT của các Hiệu trưởng tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam gặp nhiều khó khăn, thách thức, TNXH có nguy cơ xâm nhập vào các nhà trường ngày càng cao, tiềm ẩn nguy hiểm. Một trong những nguyên nhân cơ bản nêu trên là do đội ngũ CBQL ở các trường THPT tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam chưa có cơ sở lí luận đảm bảo, cũng như chưa thực sự đầu tư đúng mức cho công tác này trong công tác quản lý nhà trường.
Đề tài của tôi là sự tiếp nối những nghiên cứu và biện pháp quản lý hoạt động GDPN TNXH cho HS các trường THPT huyện Núi Thành nhằm góp phần đưa ra những biện pháp hiệu quả nhất trong công tác phòng ngừa TNXH xâm nhập vào nhà trường. Các khái niệm chính của đề tài 1.