phần mở đầu, 4 chƣơng, 9 tiết, kết luận, danh mục các công trình khoa học đã công ố của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Xung quanh chủ đề GDĐĐ cho sinh viên có rất nhiều công trình của các nhà nghiên cứu quan t m tìm hiểu theo các mức độ, phạm vi khác nhau.
Các công trình đƣợc tiếp cận, trình ày ở hình thức khác nhau nhƣ giáo trình, sách, bài báo. Vì vậy, theo chúng tôi, để tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài GDĐĐ cho sinh viên ĐHQGHN trong ối cảnh HNQT hiện nay từ góc độ triết học, việc khái quát thành các nhóm vấn đề nghiên cứu là cần thiết và có thể khái quát kết quả nghiên cứu của các tác giả theo một số nội dung cơ ản sau: 1. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến những vấn đề lý luận giáo dục đạo đức cho sinh viên Trong phần này chúng tôi khảo cứu các công trình nghiên cứu liên quan đến đạo đức và đạo đức học, bao gồm khái niệm, bản chất, cấu trúc của đạo đức, quan niệm của các nhà kinh điển mác-xít về đạo đức; các công trình nghiên cứu liên quan đến GDĐĐ cho sinh viên nhƣ khái niệm, nội dung, hình thức, phƣơng pháp giáo dục, tầm quan trọng của GDĐĐ cho sinh viên; quan niệm của C.Lênin, Hồ Chí Minh về vai trò của thanh niên, giáo dục thanh niên; các công trình nghiên cứu liên quan đến HNQT, tác động của HNQT đến giáo dục đại học nói chung và GDĐĐ nói riêng. “Đạo đức là gì?” câu hỏi đã thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu đi tìm lời giải đáp, và vấn đề này đã đƣợc trình bày trong nhiều giáo trình đạo đức học nhƣ: Giáo trình đạo đức học [70] do Trần Hậu Kiêm (chủ biên) (1996); Giáo trình đạo đức học [32] của tác giả Vũ Trọng Dung (chủ biên) (2005); Giáo trình đạo đức học Mác – Lênin [64] của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Triết học (2006); Giáo trình đạo đức học [115] của Trần Đăng Sinh, Nguyễn Thị Thọ (đồng chủ biên) (2008); Phạm Khắc Chƣơng (2010), (chủ biên), Đạo đức học [26]; Giáo trình đạo đức học đại cương [38] của Dƣơng Văn Duyên (chủ biên) (2013);.
Trong các công trình này, hầu hết các tác giả đã đƣa ra khái niệm đạo đức và phân biệt giữa đạo đức và đạo đức học, phân tích cấu trúc, nguồn gốc, bản chất, chức năng và vai trò của đạo đức. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi nƣớc ta tiến hành HNQT ngày càng sâu rộng, trƣớc những ảnh hƣởng tiêu cực của HNQT mang lại và trƣớc tác động từ những mặt trái của KTTT, đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân có nhiều biểu hiện suy đồi, lệch lạc, xa rời những giá trị văn hóa và đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Bởi vậy, vấn đề đạo đức nói chung, GDĐĐ nói riêng đƣợc các nhà khoa học đặc biệt quan tâm nghiên cứu, lý giải nguyên nh n và đi tìm giải pháp góp phần thay đổi tình trạng đạo đức xã hội. Do đó, hàng trăm công trình liên quan đến đạo đức và GDĐĐ đƣợc thai nghén và ra đời trong giai đoạn này.
Hai tác giả Phạm Minh Hạc và Nguyễn Khoa Điềm (2003) trong cuốn Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa [58] đã nghiên cứu công phu, tỉ mỉ để chỉ ra đƣờng lối giáo dục và mô hình nhân cách con ngƣời Việt Nam trong chiến lƣợc phát triển toàn diện con ngƣời. Cuốn sách bao gồm 9 chƣơng của các tác giả còn ph n tích định hƣớng chiến lƣợc xây dựng đạo đức, định hƣớng chiến lƣợc phát triển trí tuệ, thể chất và thẩm mỹ con ngƣời Việt Nam, thế hệ trẻ Việt Nam. Những suy tƣ đó của các ông đã giúp tác giả luận án nhận thức r ng: khi nghiên cứu về đạo đức thì phải đặt nó trong mối quan hệ với nhân cách để có cái nhìn toàn diện hơn; và chúng tôi cũng đã tiếp nhận quan điểm này trong việc đƣa ra những nội dung GDĐĐ cho sinh viên ĐHQGHN trong ối cảnh HNQT hiện nay nh m mục đích không chỉ dạy chữ, dạy nghề mà còn dạy ngƣời. Cũng ở công trình này, các tác giả còn phân tích sự tác động của các nhân tố chính trị, kinh tế và xã hội đến xây dựng lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị xã hội mới trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nƣớc.
Điều này đã gợi mở cho tác giả luận án cái nhìn toàn diện hơn khi đánh giá những ảnh hƣởng của bối cảnh HNQT tới GDĐĐ cho sinh viên ĐHQGHN hiện nay. “Hội nhập quốc tế: cơ hội và thách thức đối với giá trị truyền thống trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay” [22] là một vấn đề cấp thiết đƣợc tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn nghiên cứu và trình bày trong một bài báo khoa học đăng trên tạp chí Triết học, tháng 8 năm 2004. Nghiên cứu đã đƣa ra cảnh báo, bên cạnh những cơ hội thì HNQT và toàn cầu hóa đang đặt một số giá trị truyền thống của dân tộc trƣớc những thách thức. Khi các giá trị truyền thống không còn bị giới hạn trong 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phạm vi quốc gia dân tộc sẽ khó tránh khỏi sự thƣơng mại hóa, khó giữ nguyên giá trị an đầu của chúng.
Điều đó đặt ra nhiệm vụ giáo dục các giá trị truyền thống cho thế hệ trẻ là vô cùng quan trọng, làm sao để họ hiểu r ng, giờ đ y, giá trị tinh thần yêu nƣớc sẽ đƣợc đo ng sự đóng góp thực tế cho công cuộc phát triển đất nƣớc; r ng tinh thần hiếu học là nh m góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội chứ không phải chỉ cốt sao cho cá nhân có cuộc sống vật chất cao hơn; để lớp ngƣời trẻ tuổi biết tôn trọng yêu quý gia đình, huyết thống, biết xây dựng tình yêu cao đẹp và lòng thủy chung sắt son;. Tuy tác giả không nói trực tiếp đến đối tƣợng sinh viên nhƣng rõ ràng khi giáo dục các giá trị truyền thống đó của Việt Nam cho thế hệ trẻ đang học tập trong các trƣờng Đại học, Cao đẳng dƣới tác động của HNQT trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay cần nhìn thấy những biến đổi nhất định và nhiều thách thức. Di n đàn quốc tế về giáo dục Việt Nam “Đổi mới giáo dục đại học và hội nhập quốc tế” [65] của Hội đồng quốc gia giáo dục Việt Nam tổ chức năm 2005 đã khẳng định nét nổi bật của bối cảnh HNQT hiện nay là quá trình toàn cầu hóa với tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông mà gắn chặt với nó là kinh tế tri thức. Bối cảnh đó đặt mọi quốc gia trƣớc những thách thức gay gắt, đồng thời cũng tạo nên nhiều cơ hội chƣa từng có.
Do đó, giáo dục đại học Việt Nam cần phải tích cực đổi mới, cải tiến phƣơng pháp dạy và học, tăng tính chủ động của sinh viên, nâng cao khả năng tiếp thu tri thức, rèn luyện đức và tài, hồng và chuyên. để nâng lợi thế cạnh trạnh cho ngƣời học sau khi ra trƣờng. Bên cạnh đó, tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh về đạo đức, về giáo dục thanh niên cũng là những chỉ dẫn rất quan trọng trong công tác GDĐĐ cho sinh viên ĐHQGHN hiện nay. Cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức [35] do Ban Tƣ tƣởng – Văn hóa Trung ƣơng chỉ đạo biên soạn, Đinh Xu n Dũng (chủ biên) (2005) là tập hợp những bài nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đạo đức và một số mẩu chuyện chân thật, sinh động, ngắn gọn về tấm gƣơng đạo đức Hồ Chí Minh đã có những phân tích sâu sắc về chủ đề này.
Trong cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên [117] tác giả Nguyễn Thái Sơn (2007) đã ph n tích một số nội dung cơ ản trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên, về vai trò của thanh niên, vai trò của 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáo dục thanh niên, đặc biệt là giáo dục chủ nghĩa yêu nƣớc cho thanh niên, vai trò của nhà trƣờng và tổ chức Đoàn đối với việc giáo dục thanh niên. Trên cơ sở khẳng định ý nghĩa và giá trị tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên, tác giả cho r ng, trong điều kiện hiện nay, cần quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt những lời dạy của Ngƣời; r ng, để phát huy vai trò của ngƣời chủ tƣơng lai của đất nƣớc, thanh niên cần phải “sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gƣơng Bác Hồ vĩ đại”. Nguyễn Văn Lê (2006) trong cuốn Học sinh, sinh viên với văn hóa đạo đức trong ứng xử xã hội [77] đã nhấn mạnh đến các quy tắc ứng xử sƣ phạm của nhà giáo đối với học sinh, sinh viên: luôn tôn trọng, thấu hiểu, đặt mình vào vị trí của học trò, luôn khẳng định để tạo niềm tin cho ngƣời học. giữ vai trò quan trọng để công tác GDĐĐ cho sinh viên đạt đƣợc hiệu quả cao nhất.
B ng cách đƣa ra các tình huống cụ thể xảy ra trong môi trƣờng giáo dục, tác giả gợi ý cho các nhà sƣ phạm lựa chọn cách giải quyết hợp lý, trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải giữ đƣợc ình tĩnh, ngôn ngữ và ứng xử có tính sƣ phạm, luôn có thái độ khoan dung, hiểu hoàn cảnh của học trò và mở con đƣờng cho học trò chinh phục “l u đài kiến thức”, đó chính là nghệ thuật của nhà sƣ phạm. Rõ ràng, phƣơng pháp giáo dục b ng lời nói chƣa ao giờ lạc hậu nếu các nhà giáo dục biết sử dụng đúng cách. Cao Thu H ng (2008) trong bài viết Quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về giáo dục và ý nghĩa của nó đối với vấn đề đổi mới giáo dục ở nước ta hiện nay [60] đã chỉ ra trong quan niệm về giáo dục của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác: giáo dục không chỉ đƣợc coi là phƣơng thức làm giàu tri thức cho con ngƣời, phục vụ cho xã hội, mà quan trọng hơn, giáo dục là cách thức làm cho con ngƣời đƣợc phát triển toàn diện các năng lực của mình. Giáo dục giúp con ngƣời có đƣợc những kinh nghiệm cần thiết để sống, thích ứng và phát triển.
Mặt khác, giáo dục còn đƣa lại cho con ngƣời tri thức và văn hóa. Điều này giúp họ có nhiều cống hiến hơn cho xã hội.