Chương 1 Tóm lại, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự nói chung và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với người chưa thành niên phạm tội là một chế định có ý nghĩa lớn cả về mặt xã hội cũng như pháp lý, tạo cơ sở pháp lý để thực hiện phân hóa và cá thể hóa trách nhiệm hình sự, áp dụng các biện pháp xử lý 14 khoan hồng về hình sự đảm bảo cho Tòa án ra một phán quyết khách quan, công bằng, hợp lý. Đặc biệt là việc quyết định hình phạt với người chưa thành niên phạm tội, những người mà sự phát triển về thể chất có sự không tương xứng với quá trình phát triển về nhân cách, năng lực trí tuệ, nhân sinh quan và thế giới quan để hình thành toàn bộ các đặc điểm tâm sinh lý của một người bước vào độ tuổi thành niên. Ở người chưa thành niên có những biến đổi sâu sắc về mặt sinh học, có những mâu thuẫn sâu sắc trong sự phát triển nhân cách. Vì những ý nghĩa quan trọng đó, nên thực tiễn luôn đặt ra yêu cầu khách quan phải nâng cao hiệu quả vận dụng chế định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nói chung và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với người chưa thành niên phạm tội nói riêng.
Đây là các tình tiết quyết định khoan hồng tạo cho người phạm tội ăn năn hối cải, quay về với cuộc sống, giúp ích cho xã hội. Luận văn thạc sĩ Luật Học 15 Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999 VỀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 2. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, Điều 46 Bộ Luật Hình Sự 2. Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm Đây là trường hợp người phạm tội đã thực hiện tội phạm, nếu không có gì ngăn cản thì tác hại của tội phạm sẽ xảy ra hoặc xảy ra lớn hơn nhưng người phạm tội đã chủ động ngăn chặn không để cho tác hại xảy ra hoặc chủ động hạn chế mức độ tác hại của tội phạm.
Việc người phạm tội ngăn chặn, làm giảm bớt sự thiệt hại đó, tức là họ đã làm cho mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội giảm bớt. Việc làm giảm bớt tác hại có thể thực hiện ngay cả khi hành vi phạm tội đã chấm dứt. Luận văn Hành động ngăn thạc chặn làm sĩhạiLuật giảm bớt tác của tội phạmHọc phải xảy ra trên thực tế thì mới coi là tình tiết giảm nhẹ. Trong thực tiễn, tình tiết này thể hiện ở việc người phạm tội đã có những hành vi, biện pháp cụ thể hạn chế tác hại do hành vi phạm tội của mình gây ra.
Thiệt hại và tác hại không phải bao giờ cũng là một, có sự thiệt hại cụ thể có thể xác định được như tính mạng, sức khỏe, tài sản…nhưng có sự tác hại không thể xác định cụ thể được như tác hại đến nền an ninh chính trị, đến trật tự an toàn công cộng, trật tự quản lý hành chính, quản lý kinh tế…Khi xác định tình tiết giảm nhẹ này, cần xem xét cả hành vi ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm mà tác hại đó không phải là thiệt hại cụ thể. Việc người phạm tội ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm có thể do họ tự thực hiện hoặc do người khác tác động để thực hiện. Thái độ của người phạm tội đối với việc ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm không là yếu tố quan trọng để đánh giá mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của chủ thể bởi lẽ người phạm tội có nhờ người khác cùng ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm thì họ vẫn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với toàn bộ kết quả của việc ngăn chặn. 16 Vì điều luật chỉ quy định “đã ngăn chặn, làm giảm bớt” chứ không quy định “tự ngăn chặn, làm giảm bớt” nên mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sẽ phụ thuộc vào kết quả ngăn chặn, hạn chế được tác hại của tội phạm và thái độ chủ quan của người phạm tội đối với việc ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm (như có tự nguyện, tích cực hay không).
Nếu họ tự hành động sẽ được giảm nhẹ nhiều hơn các trường hợp do người khác tác động. Trong vụ án có đồng phạm, nếu người đồng phạm căn ngăn, khuyên bảo hoặc có hành động ngăn cản mà người thực hiện tội phạm nghe theo thì cả hai đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ này. Nếu hành vi can ngăn, khuyên bảo hoặc có hành động ngăn cản, mặc dù người thực hiện tội phạm không nghe, nhưng hành vi can ngăn, khuyên bảo hoặc có hành động ngăn cản có tác dụng làm cho tác hại được giảm bớt thì người có hành vi can ngăn, khuyên bảo hoặc có hành động ngăn cản được áp dụng tình tiết giảm nhẹ này. Khi áp dụng tình tiết này cần phân biệt trường hợp người phạm tội ngăn chặn Luận văn thạc sĩ Luật Học tác hại của tội phạm với trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.
Hai trường hợp này hậu quả của tội phạm cũng chưa xảy ra nhưng trách nhiệm hình sự của người phạm tội lại rất khác nhau. Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm, còn người ngăn chặn làm giảm tác hại của tội phạm thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự và chỉ được giảm nhẹ trong phạm vi khung hình phạt, tội danh đã định. Để phân biệt hai trường hợp này là xác định chủ thể đã thực hiện hết các hành vi khách quan cho là cần thiết để hậu quả của tội phạm xảy ra hay chưa, nếu đã thực hiện hết tức là tội phạm đã hoàn thành, các hành vi tiếp theo là ngăn chặn hậu quả xảy ra nếu chưa thực hiện hết là tự ý nửa chừng chấm dứt thực hiện tội phạm. Trong một số trường hợp, sự phân biệt này rất khó xác định, nó phụ thuộc vào sự đánh giá khách quan, toàn diện và niềm tin nội tâm của người áp dụng pháp luật.
Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả Tội phạm bao giờ cũng gây ra cho xã hội những thiệt hại đáng kể. Các thiệt 17 hại có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, trật tự xã hội. Về nguyên tắc người gây thiệt hại sẽ bị cơ quan có thẩm quyền buộc phải sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Tuy nhiên, để buộc người phạm tội bồi thường cần một quá trình tố tụng mà thiệt hại lại cần được khắc phục, sửa chữa kịp thời.
Vì vậy, người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục sớm thì không chỉ cần thiết cho việc khôi phục sự bình thường của các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại mà còn thể hiện thái độ của người phạm tội đã nhận thức được sai lầm của mình, mong muốn sửa chữa, khắc phục hậu quả.[29] Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định người phạm tội tự nguyện sửa chữa thiệt hại và người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại. Bộ luật hình sự năm 1999 quy định thêm trường hợp khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Ba tình tiết giảm nhẹ quy định ở điểm b khoản 1 điều 46 BLHS là trường hợp người phạm tội đã gây ra thiệt hại, các thiệt hại có thể là thiệt hại về tình mạng, sức khỏe, tài sản, trật tự an toàn công cộng, môi trường… hậu quả của tội phạm đã Luận văn thạc sĩ Luật Học thực tế xảy ra, nhưng người phạm tội đã tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường, hoặc khắc phục những thiệt hại do mình gây ra cho bên bị thiệt hại. Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của tình tiết này phụ thuộc vào thái độ tự nguyện, mức độ của việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả của người phạm tội.
Trường hợp người phạm tội có thái độ tích cực sửa chữa, bồi thường thiệt hại do mình gây ra cho bên bị thiệt hại hoặc tự nguyện khắc phục hậu quả của tội phạm. Thì mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của tình tiết này phụ thuộc vào thái độ tự nguyện, mức độ của việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả của người phạm tội. Trường hợp người phạm tội có thái độ tích cực sửa chữa¸bồi thường, khắc phục hậu quả thể hiện sự ăn năn, hối hận thì họ còn có thể được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1 điều 46. Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/05/2006.