Chương 1: LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN 1. Khái niệm ngƣời chƣa thành niên Người chưa thành niên là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về nhân cách (thể chất và tinh thần), chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân. Do sự phát triển của từng quốc gia khác nhau, nên khái niệm người chưa thành niên ở các quốc gia cũng khác nhau, bên cạnh việc đưa ra khái niệm này thì Công ước về Quyền trẻ em vẫn còn những điều khoản để ngỏ cho các nước quy định về độ tuổi cho người chưa thành niên, thậm chí ngay trong một quốc gia các văn bản pháp luật cũng quy định không thống nhất về vấn đề này. Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “ rong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
Như vậy người chưa thành niên là những người chưa trưởng thành do họ còn non nớt về thể chất và trí tuệ. Do đó, người chưa thành niên cần được đối xử khác với cách đối xử dành cho người đã thành niên và cần được gia đình, xã hội và Nhà nước bảo vệ, chăm sóc đặc biệt. Quan điểm, chính sách cơ bản này đã được thể hiện trong Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam cũng như trong một số luật quan trọng ở cả hệ thống hành chính và hình sự. heo đó, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trong Hiến pháp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Luật xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác.
Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi 9 và quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực cụ thể. Tuy vậy, cần lưu ý khái niệm người chưa thành niên khác với khái niệm trẻ em. heo Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004: “ rẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Tóm lại: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên.
Xử lý vi phạm hành chính đối với ngƣời chƣa thành niên 1. Khái niệm, đặc điểm, căn cứ và hình thức xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên 1. Khái niệm xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên - Khái niệm vi phạm hành chính: Khái niệm vi phạm hành chính lần đầu tiên được nêu ra trong Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989. Và được khẳng định lại trong Luật xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6/2012, được Chủ tịch nước ký lệnh công bố số 13/2012/L-CTN ngày 02/7/2012, có hiệu lực từ ngày 01/7/2013.
Tại khoản 1 Điều 2 của Luật XLVPHC 2012 đã chỉ rõ: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”. Như vậy, Luật XLVPHC không đưa ra định nghĩa trực tiếp vi phạm hành chính, mà quy định gián tiếp thông qua giải thích từ ngữ được hiểu và khái niệm vi phạm hành chính cũng đã được đề cập rất rõ ràng. rên cơ sở quy định này, cho thấy vi phạm hành chính có các đặc điểm sau: Thứ nhất, vi phạm hành chính là hành vi có lỗi; 10 Thứ hai, vi phạm hành chính xâm hại tới hoạt động quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm; Thứ ba, vi phạm hành chính phải bị xử phạt hành chính (tức là phải chịu một hoặc nhiều hình thức xử phạt đã được quy định trong Luật XLVPHC 2012 như cảnh cáo; phạt tiền; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn…). Mặc dù đây là một khái niệm đã được “luật hóa”; tuy nhiên theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu thì khái niệm này vẫn còn một số điểm chưa thực sự hợp lý như: Ấn định khách thể của vi phạm hành chính là hoạt động quản lý nhà nước như tại khoản 1, Điều 2 Luật XLVPHC 2012 thực chất không nói lên được khách thể của vi phạm mà chỉ nói lên được tính trái luật của hành vi, bởi ở đây chúng ta thấy khách thể của vi phạm pháp luật luôn là quan hệ xã hội chứ khách thể không thể là “quy định…” như đã được miêu tả tại khoản 1, Điều 2 Luật XLVPHC.
Hơn thế, nội hàm của “quản lý nhà nước” là vô cùng rộng, chính vì vậy khi đồng nhất khách thể của vi phạm hành chính với “trật tự quản lý nhà nước” dễ tạo ra sự lúng túng khi tiếp cận khái niệm khoa học, bởi suy cho cùng tất cả các ngành luật đều bảo vệ “trật tự quản lý nhà nước”. Cũng tại khoản 1, Điều 2 Luật XLVPHC 2012 sử dụng cụm từ “mà không phải là tội phạm” để xác định hành vi nào là hành vi bị xử lý hành chính, thay vì bị xử lý hình sự khi hành vi đó vi phạm các “quy định về quản lý nhà nước” dễ làm cho chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật nhầm tưởng mình có thẩm quyền để xác định hành vi nào là vi phạm hành chính, hành vi nào là vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm), bởi trên thực tế việc xác định hành vi nào là vi phạm hành chính, hành vi nào là tội phạm thuộc thẩm quyền của các nhà làm luật chứ không phải của chủ thể áp dụng pháp luật. 11 Bên cạnh đó, theo quan điểm của một số nhà khoa học thì không nên “định nghĩa khái niệm của ngành luật này thông qua khái niệm của một ngành luật khác”. Dấu hiệu cuối cùng trong khái niệm vi phạm hành chính cũng như vi phạm pháp luật nói chung là phải chịu một biện pháp chế tài cụ thể nào đó, mà trong khái niệm này thì đó là “phải bị xử phạt hành chính”, tức là phải chịu ít nhất một trong năm hình thức xử phạt đã được Luật XLVPHC quy định.
Tóm lại, từ các phân tích trên, có thể đưa đến khái niệm vi phạm hành chính như sau: Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm hành chính thực hiện, xâm hại vào các quan hệ được luật hành chính bảo vệ mà theo quy định của pháp luật thì phải chịu trách nhiệm hành chính. - Khái niệm xử lý vi phạm hành chính Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội. Pháp luật có ba chức năng: điều chỉnh, bảo vệ và giáo dục. Sở dĩ pháp luật có chức năng bảo vệ vì trong xã hội vẫn tồn tại những “vi phạm pháp luật” - là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến các lợi ích ủa xã hội, quyền và lợi ích của công dân, do người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách có lỗi.
Và người vi phạm pháp luật phải chịu trách nhiệm pháp lý - hậu quả của vi phạm pháp luật và được thể hiện trong việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế (hay là chế tài xử lý). Như đã nói trên, xử lý vi phạm hành chính là công cụ quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm duy trì trật tự, kỷ cương hành chính trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. 12 Khoản 2 Điều 2 của Luật XLVPHC đề cập: “Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”. Dễ thấy vi phạm hành chính là một trong những loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến và có ảnh hưởng lớn tới xã hội.
Vi phạm hành chính là hành vi hành động hoặc không hành động) trái pháp luật, có lỗi (cố ý hoặc vô ý) do cá nhân có năng lực trách nhiệm hành vi hành chính hoặc tổ chức thực hiện, xâm phạm trật tự nhà nước và xã hội, trật tự quản lý, sở hữu của Nhà nước, của tổ chức và của cá nhân, xâm phạm các quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của công dân mà theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính. Và chủ thể thực hiện vi phạm hành chính phải chịu trách nhiệm hành chính - là hậu quả của vi phạm hành chính, thể hiện ở sự áp dụng bởi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền những chế tài pháp luật hành chính đối với chủ thể vi phạm hành chính theo thủ tục do luật hành chính quy định. Đó là sự phản ứng tiêu cực của Nhà nước đối với người thực hiện vi phạm hành chính, kết quả là chủ thể thực hiện vi phạm hành chính phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, thiệt hại về vật chất và tinh thần so với tình trạng ban đầu của họ. Trong thực tiễn, nhà nước ta thực hiện các hoạt động “xử phạt vi phạm hành chính” “để đấu tranh phòng ngừa và chống vi phạm hành chính, góp phần giữ vững an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước”.
- Khái niệm xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên Xử lý vi phạm hành chính với người chưa thành niên là hoạt động cưỡng chế, áp dụng các biện pháp hạn chế những quyền và lợi ích nhất định 13 của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền với người chưa thành niên là chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính.