Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất. Thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động thuộc diện bị thu hồi đất ở tỉnh Bắc Ninh. Quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho người lao động thuộc diện bị thu hồi đất ở tỉnh Bắc Ninh.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT 1. Một số vấn đề lý luận chung về giải quyết việc làm cho ngƣời lao động thuộc diện thu hồi đất 1. Lao động và việc làm khu vực nông thôn Để đi sâu tìm hiểu vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động thuộc diện thu hồi đất, trước hết cần phải hiểu rõ một số khái niệm có liên quan như: lao động, việc làm, lao động nông thôn 1. Một số khái niệm cơ bản * Về lao động Có nhiều quan niệm khác nhau về lao động.
Tuy nhiên, hầu hết các quan niệm đều tập trung ở hai khía cạnh: Thứ nhất, coi lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức, là phương thức tồn tại của con người. Thứ hai, coi lao động chính là con người với sức khỏe và trí tuệ nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất và tinh thần để thỏa mãn các nhu cầu của đời sống con người. Lao động không những tạo ra của cải vật chất để nuôi sống con người mà còn tạo ra bản thân con người, phát triển con người cả về mặt thể lực và trí lực.Mác cho rằng: “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”.Ăngghen cũng khẳng định: Lao động là nguồn gốc của mọi của cải và giúp cải biến chính con người. Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải.
Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân loài người”. 6 Hiện nay, khái niệm về lao động thường được sử dụng là: Lao động là hoạt động có mục đích của con người trong các lĩnh vực ngành nghề kinh tế quốc dân nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội và nuôi sóng bản thân và gia đình. Người có sức lao động là những người trong độ tuổi có khả năng hoạt động lao động trong các lĩnh vực ngành nghề của nền kinh tế quốc dân. * Về việc làm Việc làm đối với mỗi người lao động, là được làm việc gắn với từng công việc cụ thể, không chỉ để tồn tại mà còn là sự hoàn thiện bản thân.
Đối với xã hội, việc làm tạo ra của cải vật chất và các dịch vụ cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Việc làm là mối quan tâm số một của người lao động, và giải quyết việc làm là nhiệm vụ quan trọng của tất cả các quốc gia. Cuộc sống của bản thân và gia đình người lao động phụ thuộc rất lớn vào việc làm của họ. Sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng gắn liền với tính hiệu quả của chính sách giải quyết việc làm của quốc gia ấy.
Việc làm được hiểu là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục đích của con người. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc bằng hiện vật. Ở nước ta, Bộ Luật Lao động, tại điều 13, chương 2 đã quy định rõ: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Các hoạt động lao động được được xác định là việc làm bao gồm: - Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật (việc làm được trả công).
- Làm những công việc tự làm hoặc làm các công việc gia đình để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc tạo ra thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật cho công việc đó (việc làm không được trả công). Từ những khái niệm trên, có thể thấy rằng, một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn các điều kiện: - là hoạt động lao động của con người; - là hoạt 7 động lao động có ích, nhằm mục đích tạo ra thu nhập; - người lao động được tự do hành nghề, hoạt động lao động đó không bị pháp luật ngăn cấm. Như vậy có thể thấy, việc làm phụ thuộc vào điều kiện kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia trong các giai đoạn phát triển khác nhau. Việc mở rộng hay thu hẹp việc làm, phát huy hay kìm hãm năng lực tạo việc làm phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia, địa phương và doanh nghiệp.
Ở nước ta, nhận thức về việc làm đã có sự thay đổi và phát triển. Điều đó dẫn đến các thay đổi về tư tưởng, chính sách và biện pháp giải quyết việc làm. Từ chỗ coi giải quyết việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, và chỉ khi làm việc trong khu vực Nhà nước mới được coi là có việc làm, đã chuyển sang nhận thức mới. Đó là: Mọi hoạt động lao động xã hội tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm.
Giải quyết việc làm là quá trình tạo ra điều kiện và môi trường bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội làm việc. Tham gia vào quá trình trình này có nhiều thành phần kinh tế: Nhà nước, các doanh nghiệp, các đoàn thể và các cá nhân trong toàn xã hội. Người lao động không thụ động chờ đợi Nhà nước bố trí việc làm mà chủ động tự tạo việc làm cho mình và cho người khác trong môi trường kinh tế-xã hội, luật pháp thuận lợi do Nhà nước đặt ra. Trách nhiệm của Nhà nước đã chuyển từ vị trí độc tôn trong giải quyết việc làm trước đây sang ban hành cơ chế, chính sách, luật pháp, đảm bảo cho người lao động tự do hành nghề, các đơn vị sản xuất kinh doanh được quyền tự do thuê mướn lao động… Như vậy, lao động, việc làm là khái niệm chỉ những người trong độ tuổi lao động (hay có sức lao động) được bố trí việc làm trong những ngành nghề khác nhau, kể cả lĩnh vực hoạt động sản xuất vật chất và phi vật chất, để tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu cho xã hội và tạo thu nhập cho gia đình người lao động.
* Về lao động nông thôn Lao động nông thôn được hiểu là những người trong độ tuổi (hay có sức lao động) ở khu vực nông thôn được bố trí việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp và ngành nghề tại nông thôn để tạo ra sản phẩm cho xã hội và thu nhập cho gia đình và bản thân. 8 * Về giải quyết việc làm Giải quyết việc làm là quá trình tạo ra và kết hợp giữa các yếu tố tư liệu sản xuất, sức lao động và các điều kiện kinh tế-xã hội khác để đảm bảo có việc làm và duy trì việc làm. Giải quyết việc làm phải được xem xét từ ba phía: người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Vì vậy, giải quyết việc làm hiểu theo nghĩa rộng là tạo ra môi trường và các điều kiện cần thiết để người lao động tự do làm ăn, tạo ra thu nhập, tự tạo việc làm cho bản thân và cho người khác theo quy định của pháp luật.
Giải quyết việc làm theo nghĩa hẹp là tổng thể các biện pháp chủ yếu hướng vào đối tượng thiếu việc làm, thất nghiệp nhằm tạo ra chỗ làm việc cho người lao động, để sao cho việc duy trì tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm ở mức thấp. Giải quyết việc làm được hiểu: - Là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất. Số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất phụ thuộc vào các yếu tố như: điều kiện tự nhiên, vốn đầu tư, tiến bộ kỹ thuật áp dụng trong sản xuất và khả năng quản lý, sử dụng đối với các tư liệu sản xuất đó. - Là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động.
Số lượng lao động lại phụ thuộc vào quy mô, tốc độ tăng dân số, các quy định về độ tuổi lao động và tốc độ di chuyển của lao động. Chất lượng lao động phụ vào sự phát triển của giáo dục và đào tạo, y tế, thể dục thể thao và chăm sóc sức khỏe cộng đồng. - Là quá trình tạo ra ra những điều kiện kinh tế - xã hội như các chính sách của Nhà nước, các giải pháp để duy trì việc làm ổn định và đạt hiệu quả cao Như vậy, có thể nói, giải quyết việc làm là tổng thể các biện pháp, chính sách kinh tế - xã hội từ vi mô đến vĩ mô tác động đến người lao động để có thể có việc làm. Đặc điểm lao động nông thôn Thứ nhất, lao động nông thôn dồi dào, chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng lao động của cả nước.
Lao động ở nông thôn chủ yếu làm việc trong nông - lâm - ngư nghiệp, một bộ phận không nhiều hoạt động trong lĩnh vực du lịch, tiểu thủ 9 công nghiệp. Thời gian lao động trung bình ở nông thôn mới chỉ chiếm khoảng 65 - 75%, còn lại là thời gian nông nhàn. Qui mô của lực lượng lao động nông thôn tăng nhanh do dân số tăng nhanh, tạo sức ép về việc làm ở khu vực nông thôn. Bởi vì lực lượng lao động tăng lên trong khi đất canh tác lại giảm dần do quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá.
Kết quả nhiều lao động mất đất hoặc thiếu đất dẫn đến tình trạng dư thừa lao động, thiếu việc làm ngày càng trầm trọng. Hai là, lao đông nông thôn hiện nay đang chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong nông nghiệp và tăng tỷ trọng trong các ngành công nghiệp và dịch vụ. Kinh tế nông thôn đã và đang có sự chuyển hướng từ thuần nông, tự túc, tự cấp sang sản suất hàng hoá, đa dạng hóa ngành nghề.