Chương 1: Cơ sở khoa học về thực hiện chính sách tạo việc làm cho nông dân; Chương 2: Thực hiện chính sách tạo việc làm cho cho nông dân tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh; Chương 3: Giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách tạo việc làm cho nông dân tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. 7 Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN 1. Tạo việc làm và chính sách tạo việc làm cho nông dân. Tạo việc làm 1.
Khái niệm: Con người là nhân tố quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho bản thân và xã hội. Để có được điều đó, con người phải dùng sức lao động thông qua những việc làm cụ thể, vậy thế nào là việc làm? Theo ILO thì “Việc làm là những hoạt động được trả công bằng tiền hoặc bằng hiện vật”. Theo Điều 13, Chương II, Bộ Luật Lao động thì “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [1,tr42]. Việc làm là hoạt động lao động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, tạo thu nhập hoặc lợi ích cho bản thân, gia đình người lao động hoặc cho một cộng đồng nào đó.
Các hoạt động lao động được xác định là việc làm bao gồm: Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật; và những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc gia đình mình, không được trả công cho công việc đó. Khái niệm việc làm của Luật Lao động bao gồm một phạm vi rất rộng, từ những công việc chính thức được thực hiện trong nhà máy, xí nghiệp đến các hoạt động lao động hợp pháp tại khu vực phi chính thức đều được coi là việc làm. Khái niệm này mang một ý nghĩa pháp luật- xã hội to lớn khi nó đã xóa bỏ sự phân biệt đối xử lao động giữa các thành phần kinh tế, động viên mọi tổ 8 chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động. Đồng thời cũng thể hiện đặc trưng của Nhà nước pháp quyền là khuyến khích mọi người tham gia làm những việc mà không bị pháp luật ngăn cấm.
Người có việc làm: là người có đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân mà trong tuần lễ liền kề trước thời điểm điều tra có thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho người được coi là có việc làm. Ở nhiều nước sử dụng mức chuẩn này là 1 giờ, còn ở nước ta mức chuẩn này là 8 giờ. Riêng với những người trong tuần lễ tham khảo không có việc làm vì các lý do bất khả kháng hoặc do nghỉ ốm, thai sản, nghỉ phép, nghỉ hè, đi học có hưởng lương, nhưng trước đó họ đã có một công việc nào đó với thời gian thực tế làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho người được coi là có việc làm và họ sẽ tiếp tục trở lại làm việc bình thường sau thời gian tạm nghỉ, vẫn được tính là người có việc làm. Căn cứ vào chế độ làm việc, thời gian thực tế và nhu cầu làm thêm của người được xác định là có việc làm trong tuần lễ trước điều tra.
Người có việc làm chia thành hai nhóm: Người đủ việc làm và người thiếu việc làm. Người đủ việc làm: Là người có số giờ làm việc trong tuần lễ tham khảo lớn hơn hoặc bằng 36 giờ nhưng không có nhu cầu làm thêm hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn 36 giờ nhưng bằng hoặc lớn hơn số giờ quy định đối với người làm các công việc năng nhọc, độc hại. Người thiếu việc làm: Là người có số thời gian làm việc trong tuần lễ tham khảo dưới 36 giờ, hoặc ít hơn giờ chế độ quy định đối với các công việc nặng nhọc, độc hại, có nhu cầu làm thêm giờ và sẵn sàng làm việc khi có việc làm. Người không có việc làm: Là những người đang tích cự tìm việc nhưng chưa làm việc hoặc đang chờ được trở lại làm việc [34].
9 Tổ chức ILO đưa ra các tiêu thức sau: Xét trong một khoảng thời gian nhất định, những người thất nghiệp là những người có khả năng làm việc nhưng không có việc làm và tích cực tìm việc làm. Căn cứ vào thời gian thực hiện công việc, Tổ chức Lao động Quốc tế phân chia “việc làm” thành các loại: + Việc làm ổn định và việc làm tạm thời: Căn cứ vào số thời gian có việc làm thường xuyên trong một năm. + Việc làm đủ thời gian và việc làm không đủ thời gian: Căn cứ vào số giờ thực hiện việc làm trong một tuần. + Việc làm chính và việc làm phụ: Căn cứ vào khối lượng thời gian hoặc mức độ thu nhập trong việc thực hiện một công việc nào đó.
Sự phân chia trên đã diễn tả đầy đủ hơn các trạng thái của việc làm theo không gian và thời gian trên một địa bàn tương ứng với một thời điểm nào đó [20]. Vai trò của việc làm Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội. Đối với từng cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bản thân mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá nhân. Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề của từng cá nhân, thực tế cho thấy những người không có việc làm thường tập trung vào những vùng nhất định (vùng đông dân cư khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng,.), vào những nhóm người nhất định (lao động không có trình độ tay nghề, trình độ văn hoá thấp,.
Việc không có việc làm trong dài hạn còn dẫn tới mất cơ hội trau dồi, nắm bắt và nâng cao trình độ kĩ năng nghề nghiệp làm hao mòn và mất đi kiến thức, trình độ vốncó. 10 Đối với kinh tế thì lao động là một trong những nguồn lực quan trọng, là đầu vào không thể thay thế đối với một số ngành, vì vậy nó là nhân tố tạo nên tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân, nền kinh tế luôn phải đảm bảo tạo cầu và việc làm cho từng cá nhân sẽ giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài hoà giữa việc làm và kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hướng phát triển bền vững, ngược lại nó cũng duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của người lao động. Đối với xã hội thì mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu thành nên xã hội, vì vậy việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội, một mặt nó tác động tích cực, mặt khác nó tác động tiêu cực. Khi mọi cá nhân trong xã hội có việc làm thì xã hội đó được duy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội sinh trong xã hội, không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con người được dần hoàn thiện về nhân cách và trí tuệ…Ngược lại khi nền kinh tế không đảm bảo đáp ứng về việc làm cho người lao động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách con người.
Con người có nhu cầu lao động ngoài việc đảm bảo nhu cầu đời sống còn đảm bảo các nhu cầu về phát triển và tự hoàn thiện, vì vậy trong nhiều trường hợp khi không có việc làm sẽ ảnh hưởng đến lòng tự tin của con người, sự xa lánh cộng đồng và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội. Việc làm cho nông dân Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: nông dân là người lao động cư trú ở nông thôn, sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng, sau đó bằng các ngành, nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai. Có ý kiến cho rằng: nông dân là lao động làm việc trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh nông nghiệp; hoặc ý kiến khác: nông dân là một bộ phận của lực lượng lao động, bao gồm toàn bộ những người lao động dưới dạng tích cực (lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân) và lao động tiềm tàng (có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao động) thuộc khu vực nông thôn (khu vực địa lý bao trùm toàn bộ dân cư nông thôn). 11 Đặc điểm việc làm của nông dân: Lao động nông nghiệp của nông dân là thứ lao động tất yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu lao động của đất nước cũng như trong giai đoạn trước khi thu hồi đất của nông dân.
Ở Việt Nam, xuất phát điểm của quá trình CNH, HĐH đất nước là một nước có nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp với nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất lương thực và bảo đảm sự sinh tồn của dân cư.Đây cũng là đặc trưng cơ bản của các nước có nền văn minh lúa nước trên thế giới. Với tỷ lệ trên 65% dân số sống ở nông thôn, lực lượng lao động nông nghiệp chiếm từ 65 - 70% tổng lao động toàn xã hội; năng suất lao động thấp; phân công lao động khu vực nông nghiệp, nông thôn kém phát triển điều này tạo ra áp lực buộc người dân phải sống dựa vào đất nông nghiệp - con đường cơ bản để duy trì sự sống. Quy mô việc làm ở nông thôn cho đến ngày nay vẫn chủ yếu ở quy mô nhỏ lẻ, quy mô gia đình. Mỗi một đơn vị, một cơ sở sản xuất chỉ giải quyết được việc làm cho 3 - 4 nhân công.
Việc xuất hiện và ngày càng phát triển các trang trại có quy mô ngày càng lớn hiện nay ở các vùng nông thôn đang tạo một nhu cầu hợp tác mới trong lao động sản xuất ở nông thôn và cùng theo đó sẽ tạo ra quy mô việc làm lớn hơn. Tuy nhiên cho đến ngày nay, mặc dù nhu cầu này đang phát triển những vẫn chưa chiếm được tỷ lệ cao trong việc cung cấp việc làm cho lao động ở nông thôn. Lao động của nông dân mang tính chất là lao động giản đơn, công việc mang tính nặng nhọc, hiệu quả công việc và năng suất lao động thấp hơn so với các ngành sản xuất khác.