Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về thất nghiệp ở khu vực thành thị Chương 2: Phân tích thực trạng thất nghiệp ở khu vực thành thị của Việt Nam giai đoạn 2000-2008 Chương 3: Một số giải pháp cho vấn đề thất nghiệp khu vực thành thị ở Việt Nam CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THẤT NGHIỆP Ở KHU VỰC THÀNH THỊ 1.1 Khái niệm, đặc trƣng của thất nghiệp ở khu vực thành thị 1.1 Các khái niệm - Thất nghiệp Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì thất nghiệp bao gồm toàn bộ số ngưởi ở độ tuổi quy định mà trong suốt thời gian khảo sát: có khả năng làm việc, không có việc làm và đang đi tìm việc làm.2 (a) Có khả năng làm việc: nghĩa là có khả năng làm bất kỳ một công viêc được trả công hoặc công việc tự làm. (b) Không có việc làm: nghĩa là đã không có bất kỳ một công việc được trả công hoặc công việc tự làm. (c) Đang đi tìm việc làm: nghĩa là trong thời gian khảo sát đã có những hoạt động tìm kiếm việc làm được trả công hoặc công việc tự làm. Những hoạt động tìm việc làm gồm: đăng ký tại cơ quan dịch vụ việc làm; nộp đơn cho các chủ doanh nghiệp; đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng; nhờ sự trợ giúp của bạn bè, người thânv.
Định nghĩa thất nghiệp của ILO được nhiều nhà kinh tế và nhiều nước tán thành. Tuy nhiên, giữa các nước đôi khi cũng có sự khác nhau về chuẩn tuổi và mức thời gian được coi là có việc làm.Nordhaus, giáo trình kinh tế học tập 1, Viện quan hệ quốc tế, 1989, người thất nghiệp là người không có việc làm được trả công, và đang có những cố gắng cụ thể để đi tìm một công việc trong 04 tuần qua hoặc bị buộc thôi việc nhưng đang chờ đợi đi làm trong tháng tới. Người thất nghiệp là 2 Kết luận Hội nghị quốc tế về thống kê lao động lần thứ 13 tại Genevơ năm 1982 những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc hoặc đang chờ được trở lại làm việc. Ở Việt Nam, từ năm 1996 đến nay, trong cuộc điều tra mẫu quốc gia về lao động-việc làm hàng năm do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Tổng cục Thống kê thực hiện theo Quyết định số 385/TTg ngày 6/6/1997 của Thủ tướng Chính phủ, xác định: "người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động mà trong tuần lễ trước điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc; có hoạt động đi tìm việc trong 4 tuần qua hoặc không có hoạt động đi tìm việc trong 4 tuần qua vì lý do không biết tìm việc ở đâu hoặc tìm mãi mà không được; hoặc trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 8 giờ, muốn và sẵn sàng làm thêm nhưng không tìm được việc".3 Nhận xét: Đối chiếu với khái niệm người thất nghiệp của ILO, khái niệm thất nghiệp ở Việt Nam về cơ bản là giống, chỉ khác một số điểm: Người thất nghiệp ở Việt Nam không căn cứ vào có hay không có hoạt động đi tìm việc làm trong thời gian khảo sát mà căn cứ vào hai yếu tố cơ bản để xác định là đang không có việc làm và có nhu cầu làm việc.
về độ tuổi, cận dưới qui định từ đủ 15 tuổi còn cận trên không giới hạn mà căn cứ vào có hay không tham gia hoạt động kinh tế. Tuy nhiên hiện nay có chỉ tiêu tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động. Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả xin được sử dụng khái niệm "Lao động thất nghiệp bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên mà trong tuần nghiên cứu thỏa mãn đồng thời ba điều kiện: (1) không làm việc, nhưng (2) sẵn sàng làm việc và (3) đã có những bước đi cụ thể để tìm việc làm; hoặc trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 8 giờ, muốn và sẵn sàng làm thêm nhưng không tìm được việc (4) nằm trong độ tuổi lao động (nam từ 15-60 tuổi, nữ từ 15- 55 tuổi)". Thất nghiệp chỉ trạng thái của người lao động, còn người lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị bao gồm những người sống ở thị trấn/phường lâu nay 3 PGS.TS Trần Xuân Cầu, PGS.TS Mai Quốc Chánh “Giáo trình kinh tế và quản lý nguồn nhân lực”, tr 444, Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội- 2008 vẫn thường xuyên ăn ở tại hộ gia đình, trước thời điểm 6 tháng họ vẫn đang ở đó, từ đủ 15 tuổi trở lên thỏa mãn 4 điều kiện ở trên.
Những người không xác định được tính chất di chuyển như những người ở nông thôn ra thành phố làm những công việc không mang tính chất ổn định, lâu dài ở một nơi nhất định, nay đây mai đó không thuộc đối tượng thất nghiệp khu vực thành thị. - Thiếu việc làm Theo Michael P. Todarro (bản dịch 1999): Kinh tế học cho thế giới thứ ba, nhà xuất bản giáo dục, Hà nội -1999 thì thiếu việc làm là những người làm việc ít hơn mức mà mình mong muốn. Thiếu việc làm được biểu hiện dưới hai dạng: Thứ nhất: Người lao động không có đủ việc làm theo thời gian quy định trong tuần, tháng.
Thứ hai: Làm những công việc có thu nhập thấp không đảm bảo cuộc sống nên muốn làm việc thêm để có thu nhập. “Người chưa có việc làm” là người có nhu cầu làm việc, hiện tại chưa tìm được việc làm, hoặc trước đây đã từng có việc làm, đã có nghề nghiệp nhất định nhưng hiện do điều kiện, hoàn cảnh nào đó chưa tìm được việc làm. Thực chất “người thất nghiệp” và “người chưa có việc làm” là cùng một bản chất, chỉ khác nhau về cách phân chia có tính chất chi tiết của cùng một chỉ tiêu, do đó có thể gọi chung “người thất nghiệp là người có nhu cầu làm việc nhưng không có việc làm, đang đi tìm việc làm” Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì người thiếu việc làm là người, trong tuần lễ tham khảo có số giờ làm việc dưới mức qui định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm thêm. Việc qui định mức chuẩn về đủ số giờ làm việc trong tuần tham khảo tùy theo tình hình cụ thể của mỗi nước.
Theo điều tra lao động việc làm “Người thiếu việc làm là người có số giờ làm việc trong tuần lễ tham khảo dưới 35 giờ; hoặc ít hơn giờ chế độ qui định đối với người làm các công việc nặng nhọc, độc hại, có nhu cầu làm thêm giờ và sẵn sàng làm việc khi có việc”. - Khu vực thành thị Theo từ điển bách khoa Việt Nam, Nhà xuất bản từ điển Bách khoa, Hà Nội 2005 (trang 158, 159) Thành thị: từ chỉ chung các điểm dân cư kiểu thành phố như các thị xã, thị trấn, thị tứ, khu dân cư công nghiệp… Thành thị và nông thôn: trong lịch sử, thành thị xuất hiện do việc tách nghề thủ công ra khỏi nông nghiệp trong thời kỳ từ chế độ cộng sản nguyên thủy chuyển qua chế độ chủ nô. Trong xã hội có giai cấp, thành thị (công nghiệp) dần dần khác hẳn và đối lập với nông thôn (nông nghiệp). Thành thị là nơi tập trung công thương nghiệp, các tổ chức phục vụ đời sống, giáo dục, khoa học, văn hóa, trong khi nông thôn lâm vào tình trạng lạc hậu về mọi mặt.
Trong chủ nghĩa tư bản, thành thị thống trị nông thôn, giai cấp tư sản bóc lột giai cấp nông dân, và trên phạm vi toàn thế giới, các nước tư bản công nghiệp bóc lột các nước nông nghiệp thuộc thế giới thứ ba. Sau cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự thống trị của giai cấp tư sản không còn, liên minh công nông được củng cố về mặt kinh tế, thì thành thị nông thôn có điều kiện cơ bản để xích lại gần nhau. Nhà nước xã hội chủ nghĩa giúp nông dân khắc phục tình trạng lạc hậu của nông thôn: đưa tiến bộ khoa học- kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, phát triển các phương tiện thông tin và giao thông vận tải, phát triển giáo dục và văn hóa. Quan hệ giữa thành thị nông thôn không còn tính đối kháng; tuy nhiên, những sự khác biệt quan trọng về điều kiện lao động và sinh hoạt vẫn tồn tại trong một thời gian lâu dài.
Những sự khác biệt này chỉ có thể mất dần bằng con đường phát triển lực lượng sản xuất của nông thôn, làm cho lao động nông nghiệp trở thành một ngành của sản xuất công nghiệp.2 Các đặc trưng của thất nghiệp ở thành thị - Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị luôn cao hơn ở khu vực nông thôn Một trong những nguyên nhân là thị trường lao động ở khu vực này phát triển, yêu cầu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Hơn nữa tốc độ tăng LLLĐ khu vực thành thị luôn cao hơn nhiều so với tốc độ tăng LLLĐ của cả nước. Tốc độ tăng dân số khu vực thành thị cũng cao hơn nhiều tốc độ tăng dân số chung của cả nước. Ở nước ta có khoảng 70% dân cư và lao động sống ở nông thôn, hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nên nạn "thất nghiệp che dấu" lại trở thành phổ biến, rất nhiều nông dân vẫn phải gắn bó với nông nghiệp, gắn bó với đất đai để tồn tại với mức thu nhập và năng suất lao động thấp.
Đồng thời ngay ở nông thôn cũng diễn ra tình trạng thất nghiệp thời vụ. Khi vào vụ gieo trồng hoặc thu hoạch, người nông dân tập trung làm việc khoảng 4-5 tháng trong năm. Thời gian còn lại họ kéo nhau lên thành phố tìm kiếm việc làm tạm thời gây áp lực giải quyết việc làm cho khu vực thành thị. Mặt khác, theo tập quán của người Việt Nam, trong nhiều gia đình, con em của họ vẫn phải sống cùng bố mẹ, nhận sự trợ giúp từ gia đình hoặc tham gia trợ giúp việc cho bố mẹ…thì đây cũng là nhóm đối tượng "thất nghiệp che dấu".
Trong những năm vừa qua, cùng với nhịp độ tăng trưởng cao của nền kinh tế quốc dân, sự thu hút mạnh mẽ các nguồn đầu tư từ nước ngoài, sự hình thành các khu công nghiệp mới với công nghệ hiện đại, chúng ta mới đề cập nhiều đến loại hình thất nghiệp cơ cấu, nhất là nhu cầu lao động qua đào tạo, có trình độ chuyên môn, trình độ tay nghề hay trình độ quản lý cao. - Thất nghiệp tập trung chủ yếu vào nhóm trẻ Thất nghiệp của thanh niên ở khu vực thành thị chiếm phần lớn thất nghiệp chung của khu vực thành thị.