mở đầu của thế lực thực dân Hoa Kỳ tại đây. Vấn đề Tây Ban Nha nhượng lại Philíppin là một trong những nội dung cơ bản của Hiệp định Pari năm 1898, được quy định tại Điều 3 của Hiệp định. Cụ thể, Tây Ban Nha nhượng lại cho Hoa Kỳ quần đảo Philíppin, bao gồm những đảo nằm trong những đường biên giới sau: Một đường biên chạy dài từ tây sang đông hoặc cận 20 độ vĩ tuyến Bắc và xuyên qua giữa eo biển Bachi, từ 118 độ kinh tuyến đến 127 độ kinh tuyến Đông Grinuých (Greenwich), từ đó dọc theo 127 độ kinh tuyến Đông của Grinuých (Greenwich) đến 4 độ 45 phút vĩ tuyến Bắc, từ đó dọc theo 4 độ 45 phút vĩ tuyến Bắc đến đoạn giao nhau với 119 độ 35 phút kinh tuyến Tây của Grinuých (Greenwich), từ đó dọc theo kinh tuyến 119 độ 35 phút Tây của Grinuých (Greenwich) đến vĩ tuyến 7 độ 40 phút Bắc, từ đó dọc theo kinh tuyến 7 độ 40 phút Bắc đến đoạn giao với 116 độ kinh tuyến Tây của Grinuých (Greenwich), và từ đó theo đến 118 độ vĩ tuyến Tây Grinuých (Greenwich), và từ 118 độ vĩ tuyến Tây của Grinuých (Greenwich) đến điểm bắt đầu. Hoa Kỳ sẽ trả cho Tây Ban Nha tổng cộng là 20 triệu đôla trong vòng 03 tháng sau khi thông qua việc trao đổi của Hiệp định hiện tại.
13 Sau khi Hiệp định Pari có hiệu lực, Hoa Kỳ đã kiểm soát đảo Palmas với tư cách một bộ phận của Philíppin cho đến khi phát sinh tranh chấp với Hà Lan. Hiệp định Oasinhtơn ký ngày 07-11-1900 là một thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và Tây Ban Nha với mục đích loại bỏ mọi hiểu lầm có thể phát sinh từ việc diễn giải Điều 3 của Hiệp định Pari năm 1898 bằng cách làm rõ chi tiết về các vùng lãnh thổ mà Tây Ban Nha giao lại cho Hoa Kỳ. Hiệp định có hiệu lực từ ngày 23 tháng 3 năm 1901 sau khi hai bên trao đổi văn kiện phê chuẩn hiệp định cho nhau. Hiệp định Oasinhtơn nêu rõ: (i) Tây Ban Nha giao lại cho Hoa Kỳ tất cả các tuyên bố chủ quyền mà Tây Ban Nha có thể đã từng có vào lúc ký kết Hiệp định Pari năm 1898 đối với tất cả các đảo thuộc quần đảo Philíppin nằm ngoài những đường ranh giới được mô tả trong Điều 3 của Hiệp định mà cụ thể là đối với các đảo Cagayan Sulu và Sibutu cùng các đảo phụ thuộc; (ii) Tây Ban Nha đồng ý rằng, tất cả các đảo trên phải được hiểu trong tổng thể tuyên bố chuyển quần đảo Philíppin từ Tây Ban Nha sang Hoa Kỳ với tư cách chúng đã được bao hàm rõ ràng trong phạm vi của các đường ranh giới đã nhắc đến ở trên (Điều 3 Hiệp định Pari năm 1898); (iii) Hoa Kỳ đồng ý trả cho Tây Ban Nha số tiền trị giá 100.000 đôla trong vòng sáu tháng sau khi hai bên trao đổi văn kiện phê chuẩn Hiệp định Oasinhtơn.
Yêu sách của các bên đối với chủ quyền đảo Palmas Cả Hoa Kỳ và Hà Lan trong vụ tranh chấp này đều đưa ra yêu sách công nhận chủ quyền của mình đối với đảo Palmas. Đối với Hoa Kỳ, yêu sách chủ quyền đối với đảo Palmas được đưa ra trên cơ sở chủ quyền của Tây Ban Nha là chủ thể đầu tiên phát hiện ra đảo Palmas. Đối với Hà Lan, yêu sách chủ quyền đối với đảo Palmas được đưa ra dựa trên sự chiếm hữu liên tục cũng như sự thể hiện chủ quyền trên thực tế đối với đảo Palmas. Vấn đề pháp lý quan trọng liên quan đến vụ việc là phải trả lời có hay không việc thiết lập quyền sở hữu đối với một vùng lãnh thổ bởi người phát hiện ra nó đầu tiên, thậm chí ngay cả khi họ không thực hiện chủ quyền thực tế của mình trên vùng lãnh thổ đó hoặc một vùng lãnh thổ có thuộc về chủ quyền của quốc gia chiếm hữu thực tế vùng lãnh thổ đó hay không? Trọng tài viên Max Huber, một luật sư người Thụy Sĩ, đã giải quyết theo hướng có lợi cho Hà Lan và lập luận rằng Hà Lan đã thực hiện chủ quyền thực tế đối với đảo Palmas.
Lập luận của ông được dựa trên cơ sở mà các bên tranh chấp đưa ra như sau: - Phải là người phát hiện ra đầu tiên: Trong lần tranh luận đầu tiên giữa hai bên Hoa Kỳ lập luận họ là nước có chủ quyền đối với đảo Palmas bởi lẽ Tây Ban Nha đã nhượng lại chủ quyền đối với lãnh thổ của Philíppin cho Hoa Kỳ bằng Hiệp định Pari ký ngày 10-12-1898 (trong đó có đảo Palmas) vì Tây Ban Nha là chủ thể đầu tiên 15 phát hiện ra đảo Palmas. Theo Hoa Kỳ, chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ không được thiết lập đơn giản bởi hành vi vẽ bản đồ mà phải thông qua một Công ước và Hoa Kỳ đã viện dẫn Công ước Munster (Treaty of Munster) ngày 30-01-1648 giữa Tây Ban Nha và Hà Lan. Công ước Munster năm 1648 có nội dung tuyên bố hòa bình giữa Tây Ban Nha và Hà Lan. Theo Hoa Kỳ, Điều V Công ước có quan hệ tới vấn đề lãnh thổ giữa Tây Ban Nha và Công ty Đông Ấn của Hà Lan.
Như vậy, đảo Palmas là một phần của lãnh thổ Philíppin và Hoa Kỳ đã chiếm giữ Philíppin sau chiến thắng trong cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha năm 1896. Như vậy, Hoa Kỳ đã thực hiện quyền chiếm hữu của người phát hiện đầu tiên thông qua sự chuyển nhượng quyền sở hữu hợp pháp từ Tây Ban Nha. Trọng tài viên cũng đã đồng ý rằng không có quy định nào của pháp luật quốc tế hiện đại không công nhận việc chuyển giao lãnh thổ qua chuyển nhượng. Tuy nhiên, Trọng tài viên đã lưu ý rằng, Tây Ban Nha không thể chuyển giao một cách hợp pháp vùng lãnh thổ mà họ không phải là người sở hữu hợp pháp và như vậy, Hiệp định Pari không thể chuyển giao đảo Palmas cho Hoa Kỳ một cách hợp pháp nếu Tây Ban Nha không thực hiện quyền của người chiếm hữu nó trên thực tế.
Trọng tài viên đã kết luận Tây Ban Nha đã là người có quyền sở hữu đối với đảo Palmas ngay khi Tây Ban Nha phát hiện ra đảo. Tuy nhiên, Trọng tài viên cũng lưu ý rằng, để duy trì chủ quyền của mình đối với vùng lãnh thổ đã 16 phát hiện ra, quốc gia phát hiện ra phải duy trì liên tục trên thực tế quyền lực của mình đối với vùng lãnh thổ đó, thậm chí chỉ bằng một hành động đơn giản như cắm quốc kỳ trên bãi biển của hòn đảo đó. Trong trường hợp này, Tây Ban Nha đã không thực hiện chủ quyền của mình trên thực tế đối với đảo Palmas sau khi quốc gia này phát hiện ra đảo. Chính vì vậy, lập luận của Hoa Kỳ đối với vụ kiện về việc Hoa Kỳ có chủ quyền đối với đảo Palmas khi là chủ thể phát hiện ra đầu tiên đã dựa trên một cơ sở pháp lý tương đối yếu.
- Phải có sự tiếp giáp: Hoa Kỳ cũng đưa ra lập luận rằng đảo Palmas là một phần của lãnh thổ tiếp giáp với đất liền lãnh thổ Philíppin, là thuộc địa của Hoa Kỳ bởi lẽ, nó gần lãnh thổ của Philíppin hơn là lãnh thổ của Inđônêxia - lãnh thổ thuộc địa của Hà Lan. Trọng tài viên đã lập luận rằng không có bất kỳ quy định nào của pháp luật quốc tế là cơ sở cho lập luận của Hoa Kỳ, bởi lẽ, vị trí của đảo không phải là cơ sở quyết định chủ quyền của đảo thuộc về quốc gia nào. Trọng tài viên cũng cho rằng, nếu chỉ dựa vào vị trí thì không đủ cơ sở pháp lý để tiến hành một vụ kiện đòi chủ quyền đối với một vùng đất. Nếu cộng đồng quốc tế đi theo hướng lập luận của Hoa Kỳ nó sẽ dẫn đến những kết quả giải quyết tùy tiện và không có cơ sở pháp lý.
- Phải thể hiện chủ quyền một cách liên tục và công khai: Quan điểm đầu tiên mà Hà Lan đưa ra: Hà Lan là chủ thể có chủ quyền đối với đảo Palmas bởi lẽ từ năm 1677, 17 quốc gia này đã thực hiện quyền chiếm hữu trên thực tế đối với đảo Palmas. Theo Hà Lan, đảo Palmas và các đảo Nanusa, đảo Talauer, gọi chung là các đảo Talaud (Talaud Islands) trước đó thuộc về Nhà nước Tabukan. Như vậy, Nhà nước địa phương Tabukan mới là chủ thể chiếm hữu trực tiếp trên thực tế đảo Palmas chứ không phải Tây Ban Nha dù Tây Ban Nha là quốc gia đã phát hiện ra đảo Palmas. Hà Lan cũng cho rằng, dựa vào Công ước Munster năm 1648, năm 1677, Hà Lan đã đạt được thỏa thuận với Nhà nước Tabukan về việc Hà Lan sẽ quản lý, kiểm soát đảo Palmas thông qua một Hiệp định giữa Công ty Đông Ấn với Nhà nước Tabukan.
Theo đó, một yêu cầu đặt ra đối với những người theo đạo Tin lành là từ chối quyền kiểm soát của các quốc gia khác đối với hòn đảo. Như vậy, Hà Lan đã chứng minh được rằng Công ty Đông Ấn đã thực hiện quyền kiểm soát đối với đảo Palmas từ thế kỷ XVII. Trong khi đó, Hoa Kỳ đã không thể đưa ra được các bằng chứng chứng minh rằng Tây Ban Nha đã thực hiện chủ quyền đối với đảo Palmas ngoại trừ những văn bản cụ thể thể hiện việc Tây Ban Nha đã phát hiện ra hòn đảo. Cũng không có bất cứ bằng chứng nào chứng minh rằng đảo Palmas chịu sự quản lý hành chính hoặc là một đơn vị hành chính của chính quyền Tây Ban Nha ở Philíppin.
Trọng tài viên đã chấp nhận lập luận của Hà Lan và cho rằng, nếu Tây Ban Nha cũng đã thực hiện chủ quyền đối với đảo Palmas thì tất yếu phải xảy ra xung đột giữa 18 Hà Lan và Tây Ban Nha về chủ quyền đối với đảo, nhưng thực tế không có bằng chứng nào cho thấy đã có sự xung đột như thế xảy ra. Như vậy, cho đến khi vụ kiện xảy ra, Hà Lan đã thực hiện chủ quyền của mình đối với đảo Palmas một cách liên tục và công khai mà không có sự phản đối của bất kỳ quốc gia hay chủ thể nào khác, kể cả của Tây Ban Nha. Nội dung phán quyết Trên cơ sở yêu sách của hai bên, các chứng cứ pháp lý mà các bên đưa ra cũng như lập luận của các bên nhằm bảo vệ yêu sách của mình và căn cứ vào quy định của pháp luật quốc tế, ngày 04-4-1928, Hội đồng trọng tài đã đưa ra phán quyết với nội dung như sau1: - Một quốc gia không thể chuyển giao một vùng lãnh thổ cho quốc gia khác khi quốc gia đó không có quyền sở hữu hợp pháp đối với vùng lãnh thổ chuyển giao.