Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về xuất khẩu và thúc đẩy xuất khẩu. Chương 2: Thực trạng về thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng gạo của Việt Nam sang thị trường EU. Chương 3: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng gạo sang thị trường EU. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU VÀ THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU 1.
Lý luận về xuất khẩu và thúc đẩy xuất khẩu 1. Giới thiệu chung xuất khẩu 1. Khái niệm về xuất khẩu Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh trên phạm vi quốc tế, là việc chúng ta đưa hàng hóa, dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác. Đây là một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp và phát triển kinh tế.
Theo điều 28, Luật Thương mại 2019: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” “Xuất khẩu hàng hóa là việc những sản phẩm hàng hóa hữu hình được sản xuất hoặc gia công tại các cơ sở sản xuất, gia công và các khu chế xuất với mục đích để tiêu thụ thị trường ngoài nước (xuất khẩu) đi qua hải quan” (Giáo trình “Thương mại quốc tế và phát triển thị trường xuất khẩu”, trường đại học Kinh tế quốc dân, NXB Thống Kê, 2003). Xem xét dưới góc độ kinh doanh, xuất khẩu là hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài ít rủi ro với chi phí thấp hơn đây là hình thức cơ bản đầu tiên của doanh nghiệp khi bước chân vào kinh doanh quốc tế. So với đầu tư thì rõ ràng xuất khẩu mang lại nhiều lợi nhuận hơn và thời gian để thu được lợi nhuận cũng ngắn hơn. Tóm lại, chúng ta có thể hiểu xuất khẩu là việc đưa hàng hóa, dịch vụ ra khỏi biên giới quốc gia tuân thủ theo quy định mà pháp luật đã ban hành và hoạt động này được diễn ra ra trên cơ sở thanh toán bằng tiền tệ của một trong hai quốc gia, hoặc lấy đồng tiền của một bên thứ ba làm căn cứ.
Các hình thức xuất khẩu Thứ nhất, xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là việc xuất khẩu hàng hóa dịch vụ do công ty đó trực tiếp bán hàng cho khách hàng ở thị trường nước ngoài, hai bên tự thỏa thuận với nhau về quyền lợi và các điều kiện liên quan để đảm bảo phù hợp với pháp luật của cả hai quốc gia. Đây là hình thức xuất khẩu độc lập của doanh nghiệp, để họ có thể chủ động hơn trong việc kinh doanh của mình. Với phương thức này, nhà xuất khẩu có thể tự mình nắm bắt được nhu cầu của thị trường, xây dựng được các chiến lược kinh doanh phù hợp với doanh nghiệp, giảm bớt được các chi phí trung gian không cần thiết và xây dựng được thêm nhiều các mối quan hệ kinh doanh trên thị trường quốc tế. Tuy 3 nhiên, khi sử dụng hình thức này doanh nghiệp cũng sẽ gặp phải một số khó khăn.
Ví dụ như với hình thức này yêu cầu doanh nghiệp phải tự bỏ vốn nên đối với những doanh nghiệp có quy mô nhỏ sẽ không phù hợp, nhà xuất khẩu đòi hỏi phải có những nghiệp vụ chuyên môn kinh doanh xuất khẩu tốt, cũng như có đầy đủ các kiến thức về xuất khẩu hàng hóa để đảm bảo việc kinh doanh xuất khẩu trực tiếp có hiệu quả. Thứ hai, xuất khẩu gián tiếp Đây là hình thức kinh doanh có xuất hiện bên thứ ba (bên trung gian) họ sẽ đóng vai trò thay cho đơn vị sản xuất tiến hành đàm phán ký kết hợp đồng, thực hiện các thủ tục cần thiết theo yêu cầu của bên ủy thác để xuất khẩu và bên trung gian được hưởng một số tiền nhất định gọi là phí ủy thác. Phí này thường được quy định theo phần trăm giá trị lô hàng do người ủy thác và người được ủy thác thỏa thuận với nhau trên hợp đồng. Có ba loại trung gian chủ yếu trong kinh doanh xuất khẩu là: đại lý, công ty quản lý xuất nhập khẩu và công ty kinh doanh xuất nhập khẩu.
Các trung gian này hỗ trợ công ty xuất khẩu hàng hóa sang thị trường nước ngoài. Đại lý: Là các cá nhân hoặc tổ chức đại diện cho nhà xuất khẩu thực hiện một hay một số hoạt động nào đó ở thị trường nước ngoài do người ủy thác ủy quyền dựa trên quan hệ hợp đồng giữa hai bên ký kết. Đại lý là người thiết lập quan hệ hợp đồng với các công ty và khách hàng ở thị trường nước ngoài. Đại lý không có quyền chiếm hữu và sở hữu hàng hóa mà chỉ thực hiện một hay một số công việc nào đó do công ty ủy thác yêu cầu và nhận thù lao.
Công ty quản lý xuất khẩu: họ nhận ủy thác và có trách nhiệm quản lý công tác xuất khẩu hàng hóa dựa trên danh nghĩa của công ty xuất khẩu, có thể hiểu họ chính là nhà xuất khẩu gián tiếp. Công việc của họ là nhận các thủ tục xuất khẩu và thu phí xuất khẩu. Bản chất đây là việc thực hiện quản lý và thu thù lao từ hoạt động xuất khẩu đó. Công ty kinh doanh xuất khẩu: họ hoạt động như một nhà phân phối độc lập, công ty này thực hiện chức năng kết nối doanh nghiệp công ty xuất khẩu trong nước với khách hàng nước ngoài, giúp hai bên trao đổi buôn bán hàng hóa với nhau.
Bản chất của công ty kinh doanh xuất khẩu là thực hiện dịch vụ nhằm kết nối khách hàng nước ngoài với công ty có nhu cầu xuất khẩu trong nước. Việc sử dụng hình thức xuất khẩu gián tiếp này thì luôn được các công ty vừa và nhỏ ưa dụng bởi những công ty trung gian thường họ sẽ có cơ sở vật chất nhất định và người ủy thác không cần phải đầu tư trực tiếp. Các công ty trung gian thường họ sẽ là người có kinh nghiệm giúp công ty ủy thác giảm bỏ một số chi phí trong việc vận chuyển lưu thông hàng hóa và giúp công ty xuất khẩu đẩy mạnh phát triển thị 4 trường hàng hóa hơn. Những hình thức này xuất hiện bên thứ ba, công ty xuất nhập khẩu người ủy thác sẽ phải đáp ứng yêu cầu và điều kiện mà bên trung gian đưa ra, họ không được trực tiếp liên hệ với thị trường nước ngoài.
Nếu kiểm soát bên thứ ba này không tốt công ty có thể gặp phải rủi ro do sự thiếu trách nhiệm hay sự gian dối từ phía trung gian. Do vậy việc sử dụng hình thức này cũng cần cân nhắc và hết sức cẩn thận. Thứ ba, xuất khẩu tại chỗ Đây là hình thức được nhiều doanh nghiệp của Việt Nam ưa chuộng, hình thức này giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí và được hưởng nhiều ưu đãi về thuế xuất. Xuất khẩu tại chỗ với hình thức này hàng hóa sẽ không xuất ra khỏi biên giới nhưng được bán cho người nước ngoài tại VIệt Nam, khách du lịch đến Việt Nam nó vẫn có ý nghĩa kinh tế giống như hoạt động xuất khẩu.
Theo Điều 86 - Thông tư số 38/2015/TT-BTC về “Thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ” thì hàng hóa xuất khẩu tại chỗ bao gồm 3 loại: Sản phẩm gia công; máy móc, thiết bị thuê hoặc mượn; nguyên liệu, vật tư dư thừa; phế liệu, phế phẩm thuộc hợp đồng gia công theo quy định tại khoản 3 Điều 32 Nghị định số 187/2013/NĐ-CP; Hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp trong khu phi thuế quan; Hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp Việt Nam với tổ chức, cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam và được thương nhân nước ngoài chỉ định giao, nhận hàng hóa với doanh nghiệp khác tại Việt Nam. Hình thức xuất khẩu tại chỗ có thể đạt được lợi nhuận cao do tiết kiệm chi phí vận chuyển, bảo quản thu hồi lại được vốn nhanh mà vẫn có thể thu ngoại tệ. Vì vậy phương thức này được nhiều công ty ưa chuộng và được sử dụng rộng rãi. Thứ tư, tái xuất khẩu và chuyển khẩu Tạm nhập tái xuất là việc nhập khẩu tạm thời hàng hóa vào Việt Nam sau đó lại xuất khẩu hàng hóa đó sang một nước hoặc một thị trường khác.
Việc tạm nhập này không phải để tiêu dùng trong nước mà tạm thời nhập về để sản xuất gia công sau đó xuất khẩu sang nước thứ ba để thu lợi nhuận, mục đích là thu về ngoại tệ lớn hơn số ngoại tệ đã bỏ ra ban đầu. Khi tiến hành tạm nhập tái xuất, doanh nghiệp cần tiến hành đồng thời hai hợp đồng riêng biệt, gồm: hợp đồng mua hàng ký với thương nhân nước xuất khẩu và hợp đồng bán hàng ký với thương nhân nước nhập khẩu. Chuyển khẩu là hoạt động hàng hóa đi thẳng từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu. Nước tái xuất trả tiền cho nước xuất khẩu và thu tiền nước nhập khẩu.
Kinh 5 doanh chuyển khẩu đòi hỏi công ty phải có sự nhạy bén tình hình thị trường và giá cả, sự chính xác và chặt chẽ các hoạt động mua bán nếu không sẽ dẫn đến rủi ro cao. Vai trò xuất khẩu Trong thời đại phát triển công nghệ 4.0 hiện nay với việc mở cửa nền kinh tế thì xuất khẩu luôn giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và sự phát triển của một quốc gia nói riêng. Và xuất khẩu có hai vai trò chính là đối với nền kinh tế và đối với doanh nghiệp. Đối với nền kinh tế Thứ nhất, hoạt động xuất khẩu góp phần thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng nền kinh tế của quốc gia.
Thứ hai, xuất khẩu làm tăng nguồn dự trữ ngoại tệ cho quốc gia. Thứ ba, xuất khẩu cũng góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thứ tư, xuất khẩu giúp tạo ra nhiều công ăn, việc làm cho người lao động. Thứ năm, xuất khẩu là cơ sở mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của đất nước.
Thứ sáu, xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành liên quan cùng phát triển Đối với doanh nghiệp Thứ nhất, hoạt động xuất khẩu giúp doanh nghiệp tăng doanh số bán hàng Thứ hai, xuất khẩu thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm,dịch vụ của mình. Thứ ba, giúp doanh nghiệp sẽ đa dạng hóa thị trường của mình, không chỉ trong phạm vi của quốc gia mà còn mở rộng ra phạm vi toàn thế giới. Thứ tư, xuất khẩu giúp quảng bá thương hiệu của doanh nghiệp được phổ biến rộng rãi hơn trên thế giới.