Tổng quan nghiên cứu
Khu vực nông thôn Việt Nam hiện chiếm khoảng 70,4% lực lượng lao động cả nước, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp mang tính mùa vụ cao. Tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, 100% dân số sinh sống ở địa bàn nông thôn với quy mô dân số năm 2010 đạt 76.834 người. Quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp đã thu hẹp diện tích đất canh tác bình quân trên đầu người, tạo ra tình trạng dư thừa thời gian lao động và thiếu việc làm hữu hình sâu sắc.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là giải quyết mâu thuẫn giữa nguồn cung lao động dồi dào, trẻ tuổi nhưng chất lượng chuyên môn còn hạn chế với yêu cầu khắt khe của thị trường lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mục tiêu cụ thể của luận văn bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm nông thôn; phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng giải quyết việc làm trên địa bàn huyện Phú Ninh trong giai đoạn 2008 – 2010; xác định các yếu tố cản trở và đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm tạo việc làm ổn định đến năm 2015.
Phạm vi không gian nghiên cứu được xác định toàn diện tại 10 đơn vị hành chính của huyện Phú Ninh, với phạm vi thời gian thu thập dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2008 – 2010 và dữ liệu điều tra khảo sát sơ cấp năm 2011. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp đóng góp giải pháp hạ tỷ lệ lao động thuần nông từ mức 65,23% năm 2010 xuống dưới 55% vào năm 2015, đồng thời thúc đẩy chỉ tiêu đào tạo nghề nông thôn từ 10% lên trên 35%, góp phần ổn định an sinh xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết thị trường lao động tân cổ điển và mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hai khu vực của Arthur Lewis làm nền tảng phân tích. Theo mô hình Lewis, quá trình chuyển đổi kinh tế tất yếu đòi hỏi sự dịch chuyển liên tục của dòng lao động dư thừa từ khu vực truyền thống có năng suất biên cận bằng không sang khu vực hiện đại có năng suất và giá trị gia tăng cao hơn.
Khung phân tích của luận văn làm rõ năm khái niệm then chốt:
- Lao động nông thôn: Toàn bộ lực lượng tham gia hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ tại địa bàn nông thôn.
- Việc làm và thất nghiệp: Được chuẩn hóa theo Điều 13 Bộ luật Lao động, xác định việc làm là mọi hoạt động tạo ra thu nhập hợp pháp; thất nghiệp là trạng thái người trong độ tuổi lao động có khả năng làm việc nhưng chưa tìm được việc.
- Việc làm thuần nông và phi nông nghiệp: Phân định giữa lao động trồng trọt, chăn nuôi mang tính thời vụ với các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.
- Thiếu việc làm hữu hình: Tình trạng người lao động không được sử dụng hết quỹ thời gian làm việc tiêu chuẩn trong năm và có nhu cầu tìm kiếm thêm việc làm bổ sung.
- Giải quyết việc làm: Hệ thống chính sách tổng thể của nhà nước và cộng đồng nhằm tác động đồng thời vào quan hệ cung - cầu lao động.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2008 – 2010 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Thống kê, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Phú Ninh. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bảng hỏi trực tiếp trên quy mô mẫu 120 hộ gia đình nông dân vào năm 2011.
Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho các vùng sinh thái đặc thù của huyện, bao gồm vùng đồng bằng chuyên canh lúa nước và vùng bán sơn địa có kinh tế đồi rừng. Phương pháp phân tích bao gồm thống kê mô tả, so sánh chuỗi thời gian, phân tích cơ cấu kinh tế hộ và tổng hợp định tính. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm phản ánh khách quan mối tương quan giữa đặc thù tự nhiên, trình độ học vấn với cơ hội việc làm thực tế của người lao động. Toàn bộ quy trình nghiên cứu được triển khai thực hiện từ tháng 01/2011 đến tháng 11/2011.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, quy mô nguồn nhân lực huyện Phú Ninh rất dồi dào với 44.043 người trong độ tuổi lao động vào năm 2010, chiếm 57,32% tổng dân số. Lực lượng lao động có cơ cấu rất trẻ khi nhóm tuổi từ 15 đến 34 tuổi chiếm trên 45% tổng nguồn lao động. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động tham gia sản xuất nông nghiệp thuần túy vẫn chiếm tỷ trọng chi phối với 28.728 người, tương đương 65,23% tổng lực lượng lao động toàn huyện.
Thứ hai, tồn tại sự thiếu đồng bộ rõ nét giữa tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động. Trong giai đoạn 2005 – 2010, giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng tăng trưởng bình quân 28,5%/năm, nâng tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế từ 24% lên 46,01%. Ngược lại, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm từ 58% xuống 33,95%. Mặc dù kinh tế phi nông nghiệp tăng trưởng mạnh, lực lượng lao động nông nghiệp chỉ giảm với tốc độ chậm chạp khoảng 1,5% đến 2% mỗi năm, cho thấy khả năng dung nạp lao động tại chỗ của các khu, cụm công nghiệp còn hạn chế.
Thứ ba, chất lượng lao động nông thôn ở mức rất thấp khi tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề chỉ đạt khoảng 10%, thấp hơn nhiều so với mức trung bình 25% của cả nước. Hơn 85% lao động nông thôn chỉ có trình độ học vấn phổ thông và làm việc dựa vào kinh nghiệm gia truyền. Điều này dẫn đến sự mất cân đối cung - cầu lao động: các doanh nghiệp tại 4 cụm công nghiệp trên địa bàn thiếu công nhân kỹ thuật, trong khi lao động địa phương lại không đủ tiêu chuẩn tuyển dụng.
Thứ tư, tình trạng lãng phí thời gian lao động mùa vụ diễn ra trầm trọng. Qua số liệu điều tra kinh tế hộ năm 2010, thời gian làm việc thực tế của lao động thuần nông chỉ đạt khoảng 200 đến 220 ngày trong năm, tương đương mức sử dụng khoảng 65% đến 70% quỹ thời gian lao động tiêu chuẩn.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản của các tồn tại trên bắt nguồn từ xuất phát điểm kinh tế thấp, kết cấu hạ tầng giao thông và dịch vụ hỗ trợ sản xuất chưa hoàn chỉnh. Thói quen tâm lý chuộng bằng cấp, định kiến coi trọng công việc biên chế nhà nước và tư tưởng ngại thay đổi môi trường sống khiến người dân nông thôn chưa chủ động học nghề.
Khi so sánh với kinh nghiệm giải quyết việc làm tại tỉnh Thanh Hóa, nơi đã hình thành hơn 100 làng nghề giải quyết việc làm cho 4.000 lao động và triển khai các dự án vay vốn trên 40 tỷ đồng mỗi năm, huyện Phú Ninh vẫn còn phân tán về quy mô sản xuất tiểu thủ công nghiệp và hạn chế trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi.
Về mặt học thuật và thực tiễn trình bày dữ liệu, các phát hiện trên có thể được minh họa tối ưu qua mô hình biểu đồ kết hợp: sử dụng biểu đồ cột chồng để biểu diễn sự chênh lệch giữa tỷ trọng giá trị sản xuất và tỷ trọng lao động theo ba nhóm ngành giai đoạn 2005 – 2010, kết hợp đồ thị đường thể hiện thời gian nông nhàn theo từng tháng trong năm tại các xã trung du và đồng bằng.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, nâng cao chất lượng và đổi mới phương thức đào tạo nghề gắn liền với địa chỉ sử dụng lao động. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với các doanh nghiệp tại cụm công nghiệp Quán Rường, Chợ Lò, Tam Đàn, Tam Phước mở các lớp dạy nghề may công nghiệp, cơ khí, chế biến gỗ. Mục tiêu giai đoạn 2012 – 2015 nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 35% - 40%, bảo đảm trên 80% học viên tốt nghiệp có việc làm ngay.
Thứ hai, mở rộng quy mô giải ngân và đơn giản hóa thủ tục tiếp cận Quỹ Quốc gia về việc làm. Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện phối hợp các tổ chức đoàn thể nâng mức dư nợ cho vay giải quyết việc làm lên 15 đến 20 tỷ đồng mỗi năm. Nguồn vốn này ưu tiên tài trợ các dự án kinh tế hộ, tổ hợp tác phát triển ngành nghề truyền thống và dịch vụ nông thôn với thời hạn vay từ 36 đến 60 tháng.
Thứ ba, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với khai thác tiềm năng sinh thái hồ Phú Ninh với quy mô 23.409 ha. Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo chuyển đổi diện tích đất lúa kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả, rau an toàn và nuôi trồng thủy sản nước ngọt, mục tiêu tạo thêm 1.500 việc làm mới tại chỗ mỗi năm.
Thứ tư, tổ chức chuyên nghiệp hóa công tác xuất khẩu lao động bền vững. Trung tâm Giới thiệu việc làm huyện liên kết với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động được cấp phép nhằm đào tạo ngoại ngữ, kỹ năng nghề và giáo dục định hướng cho người lao động, phấn đấu đưa 150 đến 200 lao động đi làm việc tại các thị trường có thu nhập cao hàng năm.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện Phú Ninh cùng các cơ quan cấp tỉnh có cơ sở thực chứng để xây dựng quy hoạch lao động và ban hành chính sách an sinh xã hội sát thực tế.
- Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và trung tâm việc làm: Vận dụng số liệu khảo sát nhu cầu tuyển dụng và khoảng trống kỹ năng để điều chỉnh chương trình đào tạo nghề ngắn hạn phù hợp với đặc thù lao động nông nghiệp.
- Ban quản lý các khu, cụm công nghiệp và doanh nghiệp địa phương: Nắm bắt đặc điểm tâm lý, trình độ văn hóa của nguồn nhân lực bản địa để xây dựng chiến lược tuyển dụng, đào tạo nội bộ và giữ chân người lao động.
- Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý kinh tế: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên sâu về phương pháp tiếp cận kinh tế hộ, mô hình phân tích chuyển dịch cơ cấu lao động tại địa bàn nông thôn miền Trung.
Câu hỏi thường gặp
Điểm nghẽn lớn nhất trong giải quyết việc làm tại huyện Phú Ninh giai đoạn nghiên cứu là gì?
Điểm nghẽn lớn nhất là chất lượng nguồn lao động quá thấp với khoảng 90% lao động chưa qua đào tạo nghề. Tình trạng này khiến người lao động không đáp ứng được tiêu chuẩn tuyển dụng của 1.005 cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn, dẫn đến tình trạng vừa thừa lao động phổ thông vừa thiếu thợ kỹ thuật lành nghề.
Tại sao có sự chênh lệch lớn giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động?
Sự phát triển công nghiệp của huyện chủ yếu dựa vào các dự án thu hút đầu tư có tỷ suất vốn trên lao động cao hoặc yêu cầu tay nghề khắt khe. Trong khi đó, việc đào tạo chuyển đổi nghề cho nông dân bị thu hồi đất chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghiệp, khiến 65,23% lao động vẫn bị giữ lại trong khu vực thuần nông.
Hồ Phú Ninh đóng vai trò như thế nào trong giải quyết việc làm địa phương?
Hồ Phú Ninh là công trình thủy nông lớn cung cấp nước tưới ổn định cho 4.565 ha đất canh tác của huyện, giúp nông dân thâm canh tăng vụ và nâng cao năng suất cây trồng. Đồng thời, diện tích mặt nước 3.433 ha mở ra tiềm năng to lớn để phát triển du lịch sinh thái và dịch vụ nghỉ dưỡng, tạo sinh kế phi nông nghiệp mới.
Mô hình đào tạo nghề nào đem lại hiệu quả cao nhất cho lao động nông thôn?
Mô hình đào tạo nghề lưu động kết hợp phương châm "cầm tay chỉ việc" ngay tại địa phương là giải pháp tối ưu. Đào tạo gắn liền với hợp đồng cung ứng lao động cho các nhà máy may mặc, chế biến gỗ hoặc đào tạo kỹ thuật chăn nuôi thâm canh theo chuỗi giá trị giúp người dân vừa học vừa áp dụng thực tế mà không tốn chi phí đi lại.
Làm thế nào để giải quyết tình trạng thiếu việc làm trong thời gian nông nhàn?
Giải pháp then chốt là đẩy mạnh phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp gia đình và dịch vụ vệ sinh, sửa chữa nông cụ tại các xã. Đồng thời, việc bố trí cơ cấu mùa vụ hợp lý xen kẽ các loại cây rau màu ngắn ngày sẽ giúp lấp đầy khoảng trống thời gian nhàn rỗi khoảng 80 đến 100 ngày mỗi năm của người nông dân.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thị trường lao động và việc làm nông thôn trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Phản ánh trung thực thực trạng nguồn nhân lực dồi dào (44.043 người năm 2010) nhưng còn hạn chế về chất lượng đào tạo và tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao (65,23%).
- Chỉ rõ độ trễ giữa tốc độ chuyển dịch cơ cấu GDP và cơ cấu lao động thực tế tại một huyện thuần nông mới thành lập của tỉnh Quảng Nam.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao về đào tạo nghề, tín dụng chính sách, tái cơ cấu nông nghiệp và xuất khẩu lao động.
- Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho công tác quy hoạch phát triển nguồn nhân lực đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.
Để hiện thực hóa các mục tiêu giải quyết việc làm bền vững, các cấp chính quyền địa phương cần khẩn trương cụ thể hóa các khuyến nghị thành đề án hành động, đồng thời các nhà nghiên cứu có thể tiếp tục mở rộng đánh giá tác động của các chính sách xây dựng nông thôn mới đối với thu nhập và đời sống của cư dân nông thôn trong giai đoạn tiếp theo.