Tổng quan nghiên cứu

Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ của Đại học Quốc gia Hà Nội đặt mục tiêu đưa toàn hệ thống lọt vào nhóm 100 đại học hàng đầu châu Á vào năm 2020. Trong bức tranh chung của giáo dục đại học Việt Nam với 224 trường đại học, chính phủ đã định hướng quy hoạch 20 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm phát triển theo mô hình đại học nghiên cứu. Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để chuyển đổi mô hình quản lý hoạt động khoa học công nghệ truyền thống sang mô hình đại học nghiên cứu tiên tiến, tạo động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất mô hình tổ chức hoạt động khoa học công nghệ tại Trường Đại học Công nghệ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội trong giai đoạn 2009 đến 2015. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là phân tích các khoảng trống về cơ chế vận hành, nguồn lực đầu tư và kết quả đầu ra thông qua đối sánh với các mô hình điển hình như Trường Đại học Bách khoa thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Quốc gia Singapore.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp hệ thống giải pháp tổ chức 3 trục đồng bộ, hướng đến mục tiêu nâng năng suất công bố quốc tế đạt trên 0,8 bài báo ISI hoặc Scopus trên mỗi cán bộ khoa học hàng năm, đồng thời tăng tỷ trọng doanh thu chuyển giao tri thức ngoài ngân sách đạt tối thiểu 20% đến 30% tổng nguồn thu của nhà trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản trị tổ chức của Henri Fayol với bốn chức năng cốt lõi gồm hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra, kết hợp cùng quan điểm của Nguyễn Thị Mỹ Lộc về tác động có định hướng của chủ thể quản lý. Bên cạnh đó, luận văn kế thừa triết lý giáo dục của Wilhelm von Humboldt về sự gắn kết hữu cơ không thể tách rời giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học đỉnh cao trong trường đại học.

Mô hình nghiên cứu ứng dụng cấu trúc đo lường hoạt động khoa học công nghệ theo chuẩn UNESCO gồm chuỗi giá trị từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, triển khai thực nghiệm đến chuyển giao và dịch vụ khoa học kỹ thuật. Các tiêu chuẩn quốc tế từ Tuyên ngôn Hợp Phì với 10 nguyên tắc vận hành cùng Bộ tiêu chí Đại học nghiên cứu năm 2013 của Đại học Quốc gia Hà Nội gồm 4 giá trị cốt lõi và 6 đặc trưng cơ bản được sử dụng làm khung tham chiếu chuẩn mực. Ba khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa bao gồm: hoạt động khoa học công nghệ, trường đại học nghiên cứu và doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ trong trường đại học.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ báo cáo thường niên, cơ sở dữ liệu công bố khoa học và thống kê tài chính giai đoạn 2009-2014 của ba đơn vị đối sánh. Nghiên cứu thực hiện khảo sát chọn mẫu thuận tiện có chủ đích với quy mô mẫu 120 cán bộ khoa học, giảng viên và cán bộ quản lý tại Trường Đại học Công nghệ và các ban chức năng thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội nhằm đo lường mức độ nhận thức về chuẩn đại học nghiên cứu.

Phương pháp phân tích kết hợp kỹ thuật thống kê mô tả, phương pháp đối sánh định lượng theo 14 chỉ tiêu hiệu suất cốt lõi và phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức. Bên cạnh đó, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 15 chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực quản lý giáo dục đại học. Việc lựa chọn phương pháp hỗn hợp này giúp lượng hóa chính xác các khoảng trống năng lực, xác định nguyên nhân cốt lõi của các hạn chế quản lý và kiểm chứng độ tin cậy của 5 nhóm giải pháp đề xuất trong khung thời gian nghiên cứu từ năm 2014 đến năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về cơ cấu nhân lực khoa học, Trường Đại học Công nghệ sở hữu tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt trên 60%, cao hơn đáng kể so với mức 37,52% tiến sĩ (365 cán bộ) và 47,69% thạc sĩ của Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, quy mô tổng thể lực lượng cán bộ khoa học của trường còn khá mỏng, chỉ bằng khoảng 18% quy mô 973 giảng viên cơ hữu của đơn vị bạn.

Thứ hai, về năng suất công bố học thuật, trong giai đoạn 2010-2013, Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận mức tăng trưởng công bố quốc tế ấn tượng lên đến 251,5%, từ 33 bài năm 2010 lên 116 bài năm 2013. Trong khi đó, Đại học Quốc gia Singapore khẳng định vị thế vượt trội khi đạt 8.000 bài báo quốc tế có phản biện năm 2013 và tăng lên hơn 8.200 bài năm 2014, tạo ra khoảng cách lớn so với mức bình quân 40 đến 60 bài báo mỗi năm của Trường Đại học Công nghệ.

Thứ ba, về kết quả thương mại hóa và sở hữu trí tuệ, Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh đạt tổng doanh thu chuyển giao công nghệ 324 tỷ đồng trong 4 năm, riêng năm 2013 đạt 95 tỷ đồng và đăng ký 22 sáng chế. Đại học Quốc gia Singapore huy động hơn 757 triệu USD tài trợ nghiên cứu bên ngoài, sở hữu 350 doanh nghiệp khởi nghiệp và 71 bằng sáng chế được cấp năm 2013. Ngược lại, tỷ lệ sản phẩm khoa học có khả năng thương mại hóa thực tế của Trường Đại học Công nghệ chỉ ước đạt dưới 15% tổng số đề tài nghiệm thu.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch về hiệu quả hoạt động bắt nguồn từ việc mô hình tổ chức của Trường Đại học Công nghệ vẫn vận hành theo cơ chế hành chính đơn tuyến, thiếu vắng các tổ chức trung gian như vườn ươm doanh nghiệp công nghệ hoặc doanh nghiệp trực thuộc trường. Trong khi đó, mô hình của Đại học Quốc gia Singapore liên kết chặt chẽ 26 viện nghiên cứu chuyên sâu với mạng lưới doanh nghiệp khởi nghiệp, còn Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh vận hành thành công công ty cổ phần tư vấn và vườn ươm ươm tạo 5 doanh nghiệp công nghệ cao.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cột chồng thể hiện động thái tăng trưởng số lượng bài báo ISI giai đoạn 2010-2014, kết hợp biểu đồ hình tròn phân tích cơ cấu tài chính khoa học với hơn 70% kinh phí phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Bảng ma trận đối sánh 14 chỉ tiêu định lượng làm sáng tỏ thực trạng phân tán phòng thí nghiệm và sự thiếu hụt quy chế thu hồi chi phí gián tiếp, vốn được Đại học Quốc gia Singapore áp dụng ở mức 20% đến 60% cho mỗi dự án hợp tác.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc mô hình tổ chức khoa học công nghệ thông qua việc thành lập Viện Nghiên cứu Tiên tiến và quy hoạch 6 đến 8 nhóm nghiên cứu mạnh liên ngành trong giai đoạn 2016-2018. Ban Giám hiệu Trường Đại học Công nghệ chủ trì phối hợp cùng Đại học Quốc gia Hà Nội thiết lập 1 vườn ươm công nghệ nhằm ươm tạo tối thiểu 3 doanh nghiệp spin-off công nghệ cao vào năm 2020.

Thứ hai, đổi mới cơ chế phân bổ tài chính bằng cách trích lập tối thiểu 10% nguồn thu học phí cho Quỹ Phát triển Khoa học Công nghệ nội bộ, đồng thời đầu tư từ 5 đến 10 tỷ đồng mỗi năm để nâng cấp trang thiết bị phòng thí nghiệm trọng điểm. Phòng Kế hoạch Tài chính và Phòng Khoa học Công nghệ chịu trách nhiệm triển khai chính sách thu hồi 20% chi phí quản lý gián tiếp từ các hợp đồng dịch vụ khoa học kỹ thuật.

Thứ ba, hoàn thiện chính sách đãi ngộ và tạo động lực cho cán bộ khoa học thông qua quy chế thưởng từ 20 đến 50 triệu đồng cho mỗi bài báo thuộc danh mục ISI hoặc Scopus từ năm 2016. Hội đồng Khoa học và Đào tạo nhà trường phê duyệt cơ chế giảm 30% định mức giờ giảng dạy cho các trưởng nhóm nghiên cứu xuất sắc nhằm hướng tới mục tiêu đạt 1,0 bài báo quốc tế trên mỗi cán bộ khoa học hàng năm.

Thứ tư, đẩy mạnh liên kết doanh nghiệp và thương mại hóa kết quả nghiên cứu bằng việc ký kết hợp tác chiến lược với 15 đến 20 tập đoàn công nghiệp trong và ngoài nước giai đoạn 2016-2019. Trung tâm Hợp tác Đào tạo và Chuyển giao tri thức chủ động cung ứng dịch vụ kiểm thử, đo lường kỹ thuật cao, phấn đấu nâng tốc độ tăng trưởng doanh thu chuyển giao công nghệ đạt 25% mỗi năm, chạm mốc 30 tỷ đồng vào năm 2020.

Thứ năm, ban hành bộ quy chuẩn liêm chính học thuật và hỗ trợ 100% kinh phí đăng ký xác lập quyền sở hữu trí tuệ trong giai đoạn 2016-2017 do Phòng Khoa học Công nghệ chủ trì, đặt mục tiêu đăng ký thành công 5 đến 10 bằng sáng chế và giải pháp hữu ích mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ lãnh đạo và quản lý giáo dục đại học: Giúp các nhà hoạch định chính sách tại các trường đại học thành viên nắm bắt quy trình tái cấu trúc tổ chức và áp dụng mô hình 3 trục tương tác nhằm hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi sang đại học định hướng nghiên cứu.

Nhóm giảng viên, nghiên cứu viên và trưởng nhóm nghiên cứu: Cung cấp phương pháp vận hành nhóm nghiên cứu mạnh, kinh nghiệm quản lý dữ liệu khoa học, cách thức tiếp cận các nguồn tài trợ nghiên cứu bên ngoài và chiến lược gia tăng số lượng công bố quốc tế chuẩn ISI.

Nhóm chuyên viên quản lý khoa học công nghệ và hợp tác phát triển: Cung cấp bộ công cụ đối sánh 14 chỉ tiêu hiệu suất và phương pháp phân tích ma trận SWOT để đánh giá hiện trạng tiềm lực khoa học, xây dựng quy chế quản lý tài sản trí tuệ và tổ chức hoạt động chuyển giao công nghệ.

Nhóm học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục: Sử dụng luận văn như một công trình mẫu mực về phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận quản lý tổ chức với phân tích thực chứng và kinh nghiệm đối sánh quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Điểm khác biệt cốt lõi giữa đại học nghiên cứu và đại học truyền thống là gì? Đại học nghiên cứu tích hợp sâu sắc hoạt động nghiên cứu đỉnh cao vào quá trình đào tạo sau đại học, lấy thành tích sáng tạo tri thức làm tiêu chí đánh giá cán bộ. Điển hình như Đại học Quốc gia Singapore với 350 doanh nghiệp khởi nghiệp, mô hình này chú trọng tạo ra tài sản trí tuệ và các phát minh ứng dụng thực tiễn thay vì chỉ tập trung vào chức năng truyền thụ kiến thức thuần túy.

Tại sao nghiên cứu lại chọn Đại học Quốc gia Singapore và Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh để đối sánh? Đại học Quốc gia Singapore là hình mẫu chuẩn mực quốc tế đứng thứ 21 thế giới với hơn 757 triệu USD kinh phí nghiên cứu năm 2013, trong khi Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh là cơ sở đào tạo kỹ thuật tương đồng trong nước đạt 324 tỷ đồng doanh thu chuyển giao giai đoạn 2010-2013, tạo cơ sở đối sánh toàn diện từ thực tiễn đến mục tiêu hội nhập.

Trường Đại học Công nghệ gặp khó khăn lớn nhất nào trong chuyển giao công nghệ? Trở ngại lớn nhất là sự thiếu hụt một pháp nhân doanh nghiệp trực thuộc và vườn ươm công nghệ để hoàn thiện sản phẩm từ phòng thí nghiệm ra thị trường. Dù có lực lượng cán bộ trình độ cao với hơn 60% tiến sĩ, tỷ lệ sản phẩm khoa học được ứng dụng thương mại của trường vẫn dưới mức 15% tổng số đề tài.

Tỷ lệ giảng viên có học vị tiến sĩ tác động như thế nào đến hiệu quả nghiên cứu? Lực lượng tiến sĩ là nhân tố then chốt tạo ra các công bố khoa học chất lượng cao và dẫn dắt các đề tài nghiên cứu chuyên sâu. Tại Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, 365 tiến sĩ là nòng cốt thực hiện 303 đề tài từ ngân sách nhà nước năm 2013 và công bố 116 bài báo quốc tế, chứng minh vai trò quyết định của chất lượng nhân lực đầu vào.

Giải pháp nào được đánh giá có tính cấp thiết và khả thi cao nhất? Khảo sát 120 cán bộ khoa học và chuyên gia chỉ ra rằng giải pháp đổi mới cơ chế tài chính nội bộ, trích lập quỹ khoa học 10% và ban hành quy chế khen thưởng bài báo ISI từ 20 đến 50 triệu đồng đạt mức độ cấp thiết và tính khả thi cao nhất, tạo đòn bẩy trực tiếp thúc đẩy năng suất nghiên cứu ngay trong ngắn hạn.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận quản lý và chuẩn mực tổ chức hoạt động khoa học công nghệ theo mô hình đại học nghiên cứu tiên tiến trên thế giới.
  • Đánh giá sâu sắc thực trạng và lượng hóa khoảng cách phát triển của Trường Đại học Công nghệ thông qua bộ 14 chỉ tiêu đối sánh với Đại học Quốc gia Singapore và Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Thiết lập mô hình tổ chức khoa học công nghệ 3 trục gắn kết chặt chẽ giữa đơn vị nghiên cứu, cơ sở sản xuất thử nghiệm và doanh nghiệp spin-off.
  • Đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ về cơ cấu tổ chức, phân bổ tài chính, chính sách nhân lực, hợp tác doanh nghiệp và bảo hộ sở hữu trí tuệ.
  • Xây dựng lộ trình thực thi rõ ràng theo các mốc giai đoạn 2016-2018 và 2018-2020 nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa cơ sở giáo dục lọt vào nhóm các đại học nghiên cứu tiên tiến của khu vực.

Công trình đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoạch định chiến lược phát triển khoa học công nghệ tại các cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu ở Việt Nam. Các trường đại học thành viên cần khẩn trương rà soát cơ cấu tổ chức, ban hành chính sách khuyến khích nghiên cứu đột phá và chủ động xây dựng mối liên kết với doanh nghiệp nhằm đón đầu làn sóng đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên kinh tế tri thức.