Chương 1: Cơ sở lý luận về ngoại thương và vai trò của ngoại thương trong nền kinh tế 1. Khái niệm ngoại thương. Định nghĩa Ngoại thương hay còn gọi là thương mại quốc tế, là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ ( hàng hoá hữu hình và vô hình ) giữa các quốc gia thông qua xuất nhập khẩu. Nội dung của ngoại thương bao gồm: xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá, thuê nước ngoài gia công tái sản xuất, trong đó xuất khẩu là huớng ưu tiên và là trọng điểm của hoạt động kinh tế đối ngoại ở các nước nói chung và ở nước ta nói riêng.
Đặc điểm của ngoại thương. Mấy thập kỷ gần đây, dưới tác động của các mạng khoa học - công nghệ và xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá, thương mại quốc tế có những đặc điểm mới sau đây: Tốc độ tăng trưởng của ngoại thương quốc tế tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc dân. Tốc độ tăng trưởng ngoại thương hàng hoá “vô hình” có xu hướng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng ngoại thương hàng hoá “hữu hình”. Đièu đó bắt nguồn từ sự thay dổi cơ cấu kinh tế giưũa ngành sản xuất vật chất và ngành dịch vụ trong mỗi quốc gia và quốc tế.
Cơ cấu mặt hàng có sự biến đổi sâu sắc theo hướng hàng hoá nhu cầu tầng 1 (nhu cầu về đời sống vật chất) giảm xuống và hàng hoá nhu cầu tầng 2 (nhu cầu về đời sống văn hoá tinh thần) tăng nhanh; tỷ trọng xuất khẩu hàng thô, nguyên liệu giảm xuống, còn hàng dầu mỏ khí đốt, sản phẩm công nghệ chế biến nhất là các máy móc thiết bị lại tăng nhanh. Phạm vi, phương thức và công cụ cạnh tranh của thương mại quốc tế diễn ra rất phong phú và đa dạng, không chỉ về mặt chất lượng, giá cả, mà còn về điều kiện giao hàng, bao bì, mẫu mã, thời hạn thanh toán, các dịch vụ sau bán hàng. Phạm vi thị truờng ngày một mở rộng không chỉ hàng hoá, dịch vụ thông thường mà còn mở rộng sang lĩnh vực tài chính, tiền tệ - lĩnh vực này ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ kinh tế quốc tế. Trần Anh Tú Kinh tế phát triển 47A Đề án Kinh tế phát triển Chu kỳ sống của từng loại sản phẩm ngày càng rút ngắn lại.
Các hàng hoá có hàm lượng khoa học – công nghệ cao có sức mạnh cạnh tranh hơn so với các hàng hoá truyền thống. Quá trình phát triển thuơng mại quốc tế đòi hỏi, một mặt phải tự do hoá thương mại, mặt khác phải thực hiện bảo hộ mậu dịch một cách hợp lý. Cần nhấn mạnh rằng, muốn biến ngoại thương thành đòn bẩy có sức mạnh phát triển nền kinh tế quốc dân cần phải nắm đuợc lợi thế so sánh (là lợi thế về sự chênh lệch tiền công và năng suất lao động hoặc chi phí cơ hội đới với một loại hàng hoá của một quốc gia so với quốc tế). Đương nhiên, lợi thế so sánh cũng không ở trạng thái tĩnh mà sẽ thay đổi, vì có khả năng nước đi sau sẽ đuổi kịp và vượt lên do tác động của quy luật phát triển không đồng đều về công nghệ và trí thức.
Vai trò của ngoại thương trong nền kinh tế. Trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, ngoại thương giữ vị trí trung tâm và có tác dụng to lớn: Góp phần nối liền sản xuất và trao đổi trong nước với sản xuất và trao đổi quốc tế; nối liền thị truờng trong nước với thị trường thế giới và khu vực, làm gia tăng sức mạnh tổng hợp. Góp phần làm tăng tích luỹ của mỗi nước nhờ sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh giữa các quốc gia trong trao đổi quốc tế. Là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; “điều tiết thừa thiếu” trong mỗi nước, nâng cao trình độ công nghệ và cơ cấu ngành nghề trong nước.
Tạo ra nhiều công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, ổn định và nâng cao đời sống người lao động nhất là trong các ngành xuất khẩu. Trần Anh Tú Kinh tế phát triển 47A Đề án Kinh tế phát triển Chương 2: Ngoại thương và tầm quan trọng của nó với phát triển kinh tế Hồng Kông 2. Khái quát về Hồng Kông. Hồng Kông là một đặc khu hành chính thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH), nằm trên bờ biển Đông Nam của Trung Quốc.
Hồng Kông từng là một lãnh thổ phụ thuộc của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland từ năm 1842 đến khi chuyển giao chủ quyền cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997. Tuyên bố chung Trung-Anh và Luật Cơ bản của Hồng Kông quy định rằng Hồng Kông được hưởng một quy chế tự trị cao cho đến ít nhất là năm 2047 - 50 năm sau khi chuyển giao chủ quyền. Dưới chính sách một quốc gia, hai chế độ, Chính quyền Nhân dân Trung ương chịu trách nhiệm về mặt quốc phòng và ngoại giao của lãnh thổ này còn Hồng Kông thì duy trì hệ thống pháp luật, lực lượng cảnh sát, chế độ tiền tệ, chính sách hải quan, chính sách nhập cư của Anh, và các đại biểu trong các tổ chức và sự kiện quốc tế. Với diện tích là 1104 km2, Hồng Kông chủ yếu bao gồm đảo Hồng Kông, đảo Lạn Đầu, bán đảo Cửu Long và Tân Giới.
Bán đảo Cửu Long gắn liền với Tân Giới về phía Bắc và Tân Giới nối về phía Bắc và cuối cùng nối với Trung Hoa Đại Lục qua con sông Thâm Quyến. Tổng cộng, Hồng Kông bao gồm một tập hợp 262 hòn đảo ở biển Nam Trung Hoa, trong đó Lạn Đầu là đảo lớn nhất. Đảo Hồng Kông là đảo lớn thứ hai và đông dân nhất. Ap Lei Chau là đảo có mật độ dân số cao nhất thế giới.
Vùng nước hẹp tách Đảo Hồng Kông và Bán đảo Cửu Long là bến cảng Victoria, một trong những hải cảng tự nhiên sâu nhất thế giới. Phần lớn sự phát triển đô thị của lãnh thổ hiện hữu ở Bán đảo Cửu Long, dọc theo các bờ biển phía Bắc của Đảo Hồng Kông và ở khu định cư rải rác khắp Tân Giới. Bờ biển dài và không thẳng của Hồng Kông đã tạo cho lãnh thổ này nhiều vịnh, sông và bãi biển. Hồng Kông cách Macau 60 km về phía Đông, về phía đối diện của Đồng bằng châu thổ Châu Giang và giáp với thành phố đặc khu Thâm Quyến thuộc tỉnh Quảng Đông về phía Bắc.
Đỉnh cao nhất của lãnh thổ này là Tai Mo Shan, với độ cao 958 m trên mực nước biển. Các vùng đất thấp nằm ở phần Tây Bắc của Tân Giới. Trần Anh Tú Kinh tế phát triển 47A Đề án Kinh tế phát triển Hình 2.1 Bản đồ tổng thể Hồng Kông 2. Con người.
Dân số Hồng Kông tăng nhanh chóng trong thập niên 1990, đạt 6,99 triệu vào năm 2006. Khoảng 95% dân Hồng Kông là gốc Trung Hoa, đa số dân của Hồng Kông là Quảng Đông hoặc từ các nhóm dân tộc như Người Khách gia và Triều Châu. Tiếng Quảng Đông, một ngôn ngữ Trung Quốc được sử dụng phổ biến ở phía Nam Trung Quốc là phương ngữ chính thức của Hồng Kông. Tiếng Anh cũng là một ngôn ngữ chính thức được sử dụng rộng rãi bởi hơn 1⁄3 dân số.
Phần còn lại 5% dân số bao gồm các dân tộc không phải là người Hoa là một nhóm dân cư có thể thấy rất rõ dù số lượng nhỏ. Một cộng đồng Nam Á bao gồm người Ấn Độ, Nepal. Dân tị nạn người Việt đã trở thành các cư dân thường trú của Hồng Kông.000 người Philippines làm việc ở Hồng Kông với những công việc như những người giúp việc nhà. Một số công nhân cũng đến từ Indonesia.
Có một số người châu Âu, người Mỹ, người Úc, người Canada, người Nhật, và người Triều Tiên làm việc trong các lĩnh vực tài chính và thương mại. Hồng Kông là một trong quốc gia/lãnh thổ phụ thuộc có mật độ dân dày đặc nhất, với mật độ chung hơn 6200 người trên km². Hồng Kông có tỷ lệ sinh 0,95 trẻ trên một người phụ nữ, một trong những nơi thấp nhất thế giới và thấp xa so với tỷ lệ 2,1 trẻ em trên một phụ nữ cần để duy trì mức dân số hiện hữu. Tuy nhiên, dân số của Hồng Kông tiếp tục tăng do làn sóng dân di cư từ Trung Hoa Đại Lục khoảng 45.000 người mỗi năm.
Tuổi thọ trung bình của dân Hồng Kông là 81,6 năm năm 2006, cao thứ 5 thế giới. Trần Anh Tú Kinh tế phát triển 47A Đề án Kinh tế phát triển Dân số Hồng Kông tập trung cao độ vào một khu vực trung tâm bao gồm Cửu Long, Hồng Kông Cửu Long và phía Bắc Đảo Hồng Kông. Phần còn lại dân cư thưa thớt với hàng triệu dân rải rác không đều khắp Tân Giới, phía Nam Đảo Hồng Kông và Đảo Lantau. Tôn giáo: khoảng 43% tham gia vào một số hình thức tôn giáo thực hành.
Đạo Cơ Đốc chiếm khoảng 9,6%. Tất cả các tôn giáo chính được thực hiện tự do tôn giáo ở Hồng Kông. Giáo dục: Là một thuộc địa Anh, hệ thống giáo dục của Hồng Kông gần như theo hệ thống giáo dục của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, và đặc biệt là hệ thống giáo dục Anh. Tỷ lệ biết chữ ở Hồng Kông là 97,1% (trong đó ở nam là 98,7% và ở nữ là 95,4%).
Lực lượng lao động (2008): 3,66 triệu người trong đó bán buôn, bán lẻ, kinh doanh xuất nhập khẩu, nhà hàng và khách sạn chiếm 29,0%; tài chính, bảo hiểm, bất động sản, kinh doanh và dịch vụ chiếm 14,3% và sản xuất chiếm 4,2%. Bảng số liệu về thu nhập bình quân đầu người của Hồng Kông trong những năm gần đây. Năm GNI/người (USD) Xếp hạng (trên thế giới) 2005 25.705,462 16 Trần Anh Tú Kinh tế phát triển 47A Đề án Kinh tế phát triển 1995 23.869,755 18 Nguồn: World Development Indicator Database 2. Chính phủ.
Hồng Kông là một khu vực hành chính đặc biệt của Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa duới chính sách "Một Quốc gia, hai chế độ". Theo Luật Cơ bản và văn bản hiến pháp của Hồng Kông, chính quyền địa phương Hồng Kông nắm giữ chủ quyền lãnh thổ ngoại trừ lĩnh vực quốc phòng và ngoại giao với Hiến pháp riêng của mình. Chỉ có Trưởng Đặc khu, người đứng đầu lãnh thổ và là người đứng đầu chính quyền là được bầu chọn bởi Ủy ban Bầu cử Trưởng Đặc khu bao gồm 800 thành viên. Tất cả các viên chức khác của chính quyền, bao gồm các thành viên của các cơ quan hành pháp và lập pháp đều hoặc là được Trưởng Đặc khu bổ nhiệm (trực tiếp hay ủy nhiệm) hoặc được cử tri bầu ra.