Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình phát triển kinh tế quốc tế, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển, ngoại thương đóng vai trò là phương thức trọng yếu nhằm thu hút các nguồn lực từ bên ngoài, kích thích tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và thiết lập mối liên kết giữa thị trường nội địa với thị trường khu vực và toàn cầu. Hồng Kông là một trường hợp điển hình về sự chuyển mình kinh tế dựa vào xuất nhập khẩu. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai và thời kỳ Chiến tranh Lạnh, bất chấp những hạn chế về tài nguyên thiên nhiên và diện tích lãnh thổ, Hồng Kông đã phát triển thành một trong bốn "con hổ châu Á" và là trung tâm thương mại - tài chính quốc tế với chiến lược ngoại thương hướng ngoại.
Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về ngoại thương, đặc điểm và vai trò của ngoại thương đối với sự phát triển kinh tế.
- Phân tích thực trạng hoạt động ngoại thương của Hồng Kông, bao gồm chiến lược hướng ngoại, cấu trúc xuất nhập khẩu, các thị trường đối tác và mức độ đóng góp của ngoại thương vào quy mô kinh tế, lợi nhuận và việc làm.
- Làm rõ những vấn đề, thách thức mà ngoại thương Hồng Kông gặp phải trong bối cảnh phân hóa phát triển và sự trỗi dậy của Trung Quốc đại lục; đồng thời phân tích các giải pháp điều chỉnh chính sách thương mại.
- Rút ra các bài học kinh nghiệm về thể chế, chính sách thuế, tiền tệ, phát triển hạ tầng và cải cách hành chính có giá trị tham khảo cho Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động ngoại thương và các chính sách phát triển ngoại thương của Hồng Kông. Phạm vi không gian tập trung vào vùng lãnh thổ Đặc khu hành chính Hồng Kông trong mối tương quan với các thị trường lớn (Trung Quốc đại lục, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu, Đông Nam Á) và liên hệ thực tiễn với Việt Nam. Phạm vi thời gian bao quát tiến trình phát triển từ giai đoạn hậu chiến, thời kỳ chuyển đổi chiến lược những năm 1960 cho đến giai đoạn 1980 - 2007/2008.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Đề án dựa trên các nguyên lý của kinh tế học phát triển và kinh tế chính trị học về thương mại quốc tế:
- Khái niệm ngoại thương: Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hữu hình và vô hình) giữa các quốc gia thông qua xuất khẩu và nhập khẩu. Nội dung hoạt động bao gồm xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và thuê nước ngoài gia công tái sản xuất, trong đó xuất khẩu giữ vai trò trọng điểm.
- Lý thuyết lợi thế so sánh: Đề án nhấn mạnh lợi thế so sánh dựa trên sự chênh lệch về tiền công, năng suất lao động hoặc chi phí cơ hội đối với một loại hàng hóa giữa các quốc gia. Lợi thế này mang tính động và có thể thay đổi theo thời gian khi các quốc gia đi sau tận dụng được tri thức và công nghệ.
- Đặc điểm thương mại quốc tế hiện đại: Tốc độ tăng trưởng ngoại thương vượt tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc dân; tỷ trọng hàng vô hình (dịch vụ) tăng nhanh hơn hàng hữu hình; cơ cấu mặt hàng dịch chuyển từ nhu cầu thiết yếu (nhu cầu tầng 1) sang nhu cầu tinh thần và sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao (nhu cầu tầng 2); chu kỳ sống của sản phẩm bị rút ngắn.
- Quan điểm kết hợp: Đòi hỏi song hành giữa tự do hóa thương mại và thực thi bảo hộ mậu dịch hợp lý.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng các phương pháp kinh tế học truyền thống:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Khái quát hóa các lý thuyết thương mại và hệ thống hóa thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu của Hồng Kông qua từng thời kỳ.
- Phương pháp thống kê mô tả và so sánh số liệu: Thu thập, xử lý và phân tích các chuỗi số liệu thời gian (time-series) về kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, cán cân thương mại, cơ cấu ngành hàng và thị trường đối tác.
- Phương pháp phân tích liên ngành: Đánh giá mối liên hệ xuôi, ngược và gián tiếp của khu vực ngoại thương đối với các ngành dịch vụ trung gian, thị trường lao động và nguồn thu ngân sách.
Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ các cơ quan thống kê và tổ chức quốc tế uy tín: Cục Thống kê và Điều tra Dân số Hồng Kông (HK Census and Statistics Department), Cơ quan Quản lý Tiền tệ Hồng Kông (HKMA), Cơ sở dữ liệu Chỉ số Phát triển Thế giới (World Development Indicators - WDI), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Công ty Dữ liệu CEIC, Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), Viện Cato và Tổ chức Tư vấn Rủi ro Chính trị và Kinh tế (PERC).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về ngoại thương và vai trò của ngoại thương trong nền kinh tế
Chương 1 tập trung làm rõ bản chất kinh tế của hoạt động ngoại thương và xác định vị trí trung tâm của nó trong các hoạt động kinh tế đối ngoại:
- Khái niệm và nội dung: Ngoại thương bao gồm cả luồng hàng hóa hữu hình và dịch vụ vô hình, kết nối chu chuyển kinh tế giữa thị trường nội địa và quốc tế.
- Đặc điểm vận động mới: Thương mại quốc tế mở rộng từ các thị trường hàng hóa truyền thống sang lĩnh vực tài chính, tiền tệ; sự cạnh tranh không chỉ dừng lại ở giá cả, chất lượng mà mở rộng sang điều kiện giao hàng, bao bì, mẫu mã, thời hạn thanh toán và dịch vụ hậu mãi.
- Vai trò trong phát triển kinh tế: Ngoại thương là đòn bẩy thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, gia tăng tích lũy quốc gia nhờ khai thác hiệu quả lợi thế so sánh, điều tiết quan hệ cung cầu thừa - thiếu trong nước, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, nâng cao trình độ công nghệ và tạo việc làm cho lực lượng lao động.
Chương 2: Ngoại thương và tầm quan trọng của nó với phát triển kinh tế Hồng Kông
Chương 2 là phần nội dung trọng tâm, cung cấp bức tranh toàn cảnh về kinh tế Hồng Kông và đánh giá định lượng vai trò của ngoại thương:
1. Tổng quan kinh tế - xã hội Hồng Kông
- Điều kiện tự nhiên và dân cư: Diện tích 1.104 km², bao gồm 262 hòn đảo với bến cảng tự nhiên Victoria nước sâu. Dân số đạt 6,99 triệu người (2006), mật độ trên 6.200 người/km². Tỷ lệ biết chữ đạt 97,1%; lực lượng lao động năm 2008 là 3,66 triệu người (ngành bán buôn, bán lẻ, xuất nhập khẩu, nhà hàng khách sạn chiếm 29,0%; tài chính, bất động sản, dịch vụ kinh doanh chiếm 14,3%; sản xuất chiếm 4,2%).
- Chỉ tiêu kinh tế vĩ mô: GNI bình quân đầu người tăng từ 23.869,755 USD (1995, hạng 18 thế giới) lên 25.705,462 USD (2005, hạng 16). GDP đạt 177,702 tỷ USD năm 2005 (hạng 34 thế giới). Khu vực dịch vụ chiếm tới 90% GDP.
| Chỉ tiêu kinh tế vĩ mô |
Năm 1995 |
Năm 2005 |
| GNI bình quân đầu người (USD) |
23.869,755 |
25.705,462 |
| Xếp hạng GNI thế giới |
18 |
16 |
| GDP (USD) |
144.230.000.000 |
177.702.600.000 |
| Xếp hạng GDP thế giới |
28 |
34 |
- Thể chế và chính sách: Vận hành theo mô hình "Một quốc gia, hai chế độ" và Hiến pháp riêng. Thực thi chính sách "chủ nghĩa tích cực nhưng không can thiệp" (áp dụng từ 1971). Được xếp hạng nhất thế giới về tự do kinh tế liên tục từ năm 1995. Chế độ tỷ giá gắn kết (Pegged Exchange Rate) neo giữ đồng Dollar Hồng Kông với Dollar Mỹ ở biên độ 7,75 - 7,85 HKD/USD từ năm 1983. Thực thi Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện (CEPA) với Trung Quốc đại lục.
2. Chiến lược và chính sách ngoại thương hướng ngoại
Từ đầu thập niên 1960, Hồng Kông từ bỏ chiến lược hướng nội (vốn bị cản trở bởi thị trường nhỏ, thiếu tài nguyên và gia tăng nợ nước ngoài sau lệnh cấm vận thương mại của Liên Hợp Quốc đối với Trung Quốc trong Chiến tranh Triều Tiên) để chuyển sang chiến lược hướng ngoại:
- Mở cửa hoàn toàn nền kinh tế, duy trì cảng miễn thuế, không áp dụng hạn ngạch hay rào cản thuế quan đối với hầu hết hàng hóa (chỉ áp thuế tiêu thụ đặc biệt với 4 mặt hàng: rượu, thuốc lá sợi, dầu hydrocacbon và cồn methyl).
- Duy trì thuế suất thấp và ổn định (thuế lợi nhuận doanh nghiệp 16% - 17,5%; thuế thu nhập cá nhân lũy tiến tối đa 15% - 16%; không đánh thuế thu nhập từ tiền lãi, cổ tức hay lợi nhuận chuyển nhượng vốn).
- Không duy trì trợ cấp xuất khẩu trực tiếp nhằm buộc các doanh nghiệp tự nâng cao năng lực cạnh tranh theo tiêu chuẩn quốc tế.
3. Thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu
- Cơ cấu nhập khẩu: Chuyển dịch mạnh từ hàng tiêu dùng sang nguyên liệu thô, bán sản phẩm và tư liệu sản xuất phục vụ tái xuất khẩu. Hàng hóa nhập khẩu giữ lại cho tiêu dùng nội địa chỉ chiếm khoảng 1/4 tổng giá trị nhập khẩu. Các nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất gồm: máy điện và thiết bị điện tử, máy văn phòng và thiết bị xử lý dữ liệu, thiết bị viễn thông.
- Thị trường nhập khẩu: Trung Quốc đại lục trở thành đối tác lớn nhất (chiếm 45% - 50% tổng kim ngạch), thay thế vai trò chủ đạo trước đây của Nhật Bản, Hoa Kỳ và Đức. Các thị trường lân cận như Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc, Thái Lan và Philippines ngày càng gia tăng thị phần.
- Cơ cấu xuất khẩu:
- Xuất khẩu hàng hóa nội địa: Giảm dần quy mô từ thập niên 1990 (từ 231,65 tỷ HKD năm 1995 xuống 109,12 tỷ HKD năm 2007). Hàng dệt may chiếm khoảng 40% xuất khẩu nội địa.
- Tái xuất khẩu (Re-export): Tăng trưởng vượt bậc, đóng vai trò mũi nhọn kinh tế. Kim ngạch tái xuất khẩu năm 2007 đạt 2.578,39 tỷ HKD, gấp hơn 620 lần so với năm 1972. Mặt hàng chủ lực gồm máy móc điện tử, thiết bị viễn thông, thiết bị văn phòng. Thị trường chính là Trung Quốc đại lục (40% - 50%), Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Anh.
- Xuất khẩu dịch vụ: Đạt 554,59 tỷ HKD vào năm 2006, trong đó dịch vụ vận tải và dịch vụ thương mại liên quan chiếm tỷ trọng chi phối.
| Năm |
Nhập khẩu (Triệu HKD) |
Xuất khẩu nội địa (Triệu HKD) |
Tái xuất khẩu (Triệu HKD) |
Tổng xuất khẩu (Triệu HKD) |
| 1993 |
1.072.597 |
223.027 |
823.224 |
1.046.251 |
| 1997 |
1.615.090 |
211.410 |
1.244.539 |
1.455.949 |
| 2000 |
1.657.962 |
180.967 |
1.391.722 |
1.572.689 |
| 2004 |
2.111.123 |
125.982 |
1.893.132 |
2.019.114 |
| 2007 |
2.868.011 |
109.122 |
2.578.392 |
2.687.514 |
4. Đóng góp của ngoại thương và các thách thức phát sinh
- Mức độ đóng góp: Ngoại thương đóng góp trực tiếp 21% GDP năm 2004 và đóng góp tới 70% vào tăng trưởng GDP giai đoạn 1980 - 2000. Tạo ra 161,5 tỷ HKD lợi nhuận ròng năm 2004 (chiếm 30% tổng lợi nhuận toàn nền kinh tế). Lực lượng lao động trực tiếp trong ngành ngoại thương đạt 773.400 người (đầu năm 2005), với tổng quỹ lương 134 tỷ HKD. Nhu cầu tiêu dùng trung gian của ngành đạt 178,4 tỷ HKD (chiếm 20% tổng tiêu dùng trung gian toàn xã hội và tương đương 14% GDP).
- Thách thức: Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu của Hồng Kông so với Trung Quốc đại lục giảm mạnh từ 120% (giữa thập niên 1980) xuống dưới 40% năm 2001 do hàng hóa đại lục xuất khẩu trực tiếp qua các cảng mới nâng cấp; sự phát triển vượt trội của khu vực đồng bằng sông Dương Tử (Thượng Hải) so với vùng đồng bằng sông Châu Giang; và nguy cơ suy giảm nhu cầu từ các thị trường truyền thống (Hoa Kỳ, Nhật Bản).
Chương 3: Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương của Hồng Kông và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Chương 3 phân tích phản ứng chính sách của Hồng Kông và đúc kết hàm ý phát triển cho Việt Nam:
- Giải pháp chuyển dịch của Hồng Kông: Phát triển mạnh mẽ hoạt động thương mại xa bờ (offshore trade) để thay thế dần vị thế của tái xuất khẩu truyền thống. Thương mại xa bờ gồm hai hình thức: "merchanting" (chiếm trên 80% giá trị dịch vụ thương mại xa bờ năm 2000) và "merchandising".
- Sáu bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam:
- Xây dựng chính sách thương mại thông thoáng: Tối giản các rào cản hành chính phi thuế quan, mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc và tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch.
- Kiện toàn hệ thống pháp luật: Bảo đảm tính thực thi nghiêm minh của pháp luật, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, phòng chống tham nhũng và giảm thiểu rủi ro chính trị cho các nhà đầu tư.
- Cải cách hệ thống thuế: Đơn giản hóa biểu thuế, giảm thuế suất và số lượng đầu thuế. (Văn bản dẫn chứng số liệu WB/IFC: doanh nghiệp tại Việt Nam phải nộp tới 44 khoản thuế và mất khoảng 1.000 giờ tuân thủ mỗi năm, trong khi tại Hồng Kông chỉ phải thanh toán 8 lần/năm).
- Đầu tư cơ sở hạ tầng đồng bộ: Nâng cấp hệ thống cảng biển, mạng lưới logistics, dịch vụ vận tải đa phương thức để hạ thấp chi phí lưu thông hàng hóa.
- Duy trì tỷ giá và giá trị đồng tiền ổn định: Quản lý quỹ dự trữ ngoại hối hiệu quả nhằm tạo môi trường vĩ mô ổn định cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
- Xây dựng chính quyền hiệu năng và liêm chính: Đẩy mạnh phòng chống tiêu cực trong các cơ quan quản lý thương mại và hải quan, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường mới.
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa số liệu lịch sử: Đề tài đã xây dựng hệ thống bảng biểu thống kê chi tiết về kim ngạch xuất nhập khẩu, cơ cấu thị trường và mặt hàng của Hồng Kông trong giai đoạn dài từ năm 1952 đến năm 2007.
- Làm rõ mô hình chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu: Chứng minh bằng định lượng quá trình chuyển đổi từ mô hình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu sang xuất khẩu hàng công nghiệp nhẹ nội địa, tiếp đó là giai đoạn bùng nổ tái xuất khẩu và định hướng mở rộng thương mại xa bờ gắn với chuỗi giá trị dịch vụ.
- Định lượng tác động lan tỏa của ngoại thương: Phân tích toàn diện đóng góp của ngoại thương trên cả ba phương diện: giá trị tăng thêm (GDP), thị trường lao động (tạo việc làm và quỹ lương) và các liên kết kinh tế xuôi - ngược thông qua tiêu dùng trung gian logistics, bảo hiểm, tài chính.
- Đóng góp về mặt chính sách: Cung cấp các so sánh đối chiếu định lượng giữa môi trường kinh doanh của Hồng Kông và Việt Nam (chỉ số tự do kinh tế, mức độ thuận lợi về thuế và thủ tục hành chính) làm cơ sở tham khảo cho cải cách thể chế thương mại tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về dữ liệu: Các chuỗi số liệu thứ cấp trong đề tài dừng lại ở năm 2007 và nửa đầu năm 2008, chưa phản ánh đầy đủ tác động sâu rộng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 - 2009 đối với ngoại thương Hồng Kông.
- Hạn chế về phương pháp: Nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích cơ cấu và so sánh lịch sử, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng (như mô hình trọng lực Gravity Model hoặc phân tích hồi quy chuỗi thời gian) để kiểm định định lượng mức độ tác động của các chính sách thương mại cụ thể.
- Hướng nghiên cứu mở rộng: Nghiên cứu sâu hơn tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, sự phát triển của thương mại điện tử xuyên biên giới và diễn biến hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với Khu vực Vịnh Lớn (Guangdong - Hong Kong - Macao Greater Bay Area).
Giá trị tham khảo
Đề án là tài liệu học thuật có giá trị tham khảo thiết thực dành cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế phát triển, Kinh tế quốc tế, Thương mại quốc tế và Quản lý kinh tế khi nghiên cứu về chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu quan tâm đến mô hình kinh tế Hồng Kông, lịch sử phát triển của các nền kinh tế Đông Á và chính sách chuyển dịch cơ cấu từ xuất khẩu hàng hóa sang xuất khẩu dịch vụ.
- Các nhà hoạch định chính sách kinh tế đối ngoại trong việc tham khảo kinh nghiệm cải cách thủ tục hải quan, tinh giản chế độ thuế khóa và quản trị cảng biển tự do.
Câu hỏi thường gặp
1. Hồng Kông áp dụng chính sách thuế quan và thuế nội địa như thế nào đối với hoạt động xuất nhập khẩu?
Hồng Kông duy trì quy chế cảng miễn thuế, không áp dụng biểu thuế quan thông thường, không có thuế giá trị gia tăng, thuế bán hàng hay thuế phụ thu. Chính quyền chỉ thu thuế nhập khẩu đối với 4 nhóm mặt hàng cụ thể: rượu, thuốc lá sợi, dầu hydrocacbon và cồn methyl. Thuế suất lợi nhuận doanh nghiệp được duy trì ở mức thấp (16% - 17,5%) và không đánh thuế đối với lợi tức, cổ tức hay kiều hối.
2. Điểm khác biệt cơ bản giữa tái xuất khẩu (Re-export) và thương mại xa bờ (Offshore Trade) là gì?
Tái xuất khẩu là hoạt động nhập khẩu hàng hóa sản xuất từ bên ngoài (chủ yếu từ Trung Quốc đại lục) vào lãnh thổ Hồng Kông rồi xuất khẩu sang nước thứ ba mà không qua chế biến, gia công làm thay đổi bản chất hàng hóa. Trong khi đó, thương mại xa bờ (bao gồm "merchanting" và "merchandising") là phương thức cung ứng các dịch vụ sắp xếp, kết nối mua bán hàng hóa giữa các bên nằm ngoài Hồng Kông mà hàng hóa không cần vận chuyển qua lãnh thổ hoặc hệ thống cảng của Đặc khu.
3. Vì sao xuất khẩu hàng hóa nội địa của Hồng Kông sụt giảm mạnh từ thập niên 1990?
Sự sụt giảm này là kết quả của quá trình tái cơ cấu kinh tế. Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhẹ của Hồng Kông đã chuyển dịch nhà máy và cơ sở gia công sang các tỉnh phía Nam Trung Quốc đại lục nhằm tận dụng chi phí lao động và mặt bằng thấp. Do đó, sản lượng sản xuất trực tiếp tại lãnh thổ Hồng Kông giảm dần, nhường chỗ cho sự phát triển của ngành tái xuất khẩu và các dịch vụ logistics, tài chính phụ trợ.
4. Ngoại thương đóng góp cụ thể ra sao vào cơ cấu việc làm và lợi nhuận của nền kinh tế Hồng Kông?
Năm 2004, ngoại thương đem lại 161,5 tỷ HKD lợi nhuận ròng, chiếm 30% tổng lợi nhuận của toàn bộ nền kinh tế Hồng Kông. Đến đầu năm 2005, ngành này sử dụng 773.400 lao động, đứng thứ hai toàn nền kinh tế (sau khu vực dịch vụ), tạo ra quỹ thù lao và tiền lương khoảng 134 tỷ HKD.
5. Đề án đưa ra những dẫn chứng định lượng nào để so sánh gánh nặng thủ tục thuế giữa Việt Nam và Hồng Kông?
Tác giả dẫn số liệu của WB và IFC cho thấy một doanh nghiệp tại Việt Nam phải thực hiện nghĩa vụ đối với 44 khoản thuế khác nhau và tiêu tốn khoảng 1.000 giờ mỗi năm để tuân thủ các quy định thuế; trong khi đó tại Hồng Kông, doanh nghiệp chỉ cần thanh toán nghĩa vụ thuế khoảng 8 lần trong một năm với biểu thuế đơn giản đánh trên 3 nguồn thu (lợi nhuận, tiền lương, bất động sản).
Kết luận
Đề án của tác giả Trần Anh Tú đã hệ thống hóa và phân tích sâu sắc tiến trình phát triển ngoại thương của Hồng Kông từ giai đoạn chuyển dịch chiến lược hướng ngoại cho đến giai đoạn trở thành trung tâm thương mại toàn cầu. Thông qua việc phân tích chuỗi số liệu thực tế về kim ngạch, cơ cấu ngành hàng và mức độ đóng góp kinh tế vĩ mô, công trình đã làm rõ vai trò trụ cột của ngoại thương cũng như các thách thức phân hóa thị trường mà Đặc khu này phải đối mặt. Những bài học kinh nghiệm được rút ra về chính sách mở cửa, minh bạch hóa thể chế pháp lý, tinh giản thủ tục thuế và đầu tư hạ tầng có giá trị thực tiễn quan trọng đối với quá trình hoạch định chiến lược kinh tế đối ngoại của Việt Nam.