mở đầu cho một cuốn sách về luật WTO. Do đó, phần nghiên cứu đưa ra khá ngắn gọn, cơ bản và tác giả tập trung đưa ra những luận điểm về mối quan hệ xung đột của luật WTO nói chung mà chưa đưa ra những phân tích riêng về mối quan hệ xung đột của luật WTO về trợ cấp với các nguồn luật trợ cấp khác. Cùng hướng với xu hướng nghiên cứu về pháp luật WTO nói chung, tác giả Raj Bhala (2001) cũng dành một phần nhỏ trong chương IV để nghiên cứu về mối quan hệ giữa cơ chế GATT-WTO và pháp luật của Hoa kỳ. 30, tr 176-184 Tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa cơ chế GATT – WTO với pháp luật liên bang của Hoa kỳ và với pháp luật từng bang của Hoa kỳ.
Xu hướng thứ hai, nghiên cứu nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ xung đột của pháp luật trợ cấp, có thể kể đến các tác giả Gustavo E. Luenco, Herrianclez de Madrid (2006) trong nghiên cứu “Quy định về trợ cấp và hỗ trợ nhà nước theo luật WTO và luật Cộng đồng Châu Âu – Xung đột luật quốc tế”. 74 Tác giả đã đưa ra các nghiên cứu về mối quan hệ giữa các quy định về trợ cấp của WTO và Bộ quy tắc hỗ trợ nhà nước của Cộng đồng Châu Âu (EC State aid Rules) tại phần IV của cuốn sách. Trong đó tác giả đã chỉ ra những điểm khác biệt cơ bản giữa quy tắc hỗ trợ nhà nước của Cộng đồng Châu Âu và Hiệp định SCM, và AOA.
Đánh giá những kết quả nghiên cứu về quy định của WTO về trợ cấp Nhìn chung, các quy định của WTO về trợ cấp là nội dung cơ bản trong những nghiên cứu về vấn đề trợ cấp nói chung với nhiều mức tiếp cận và phương pháp tiếp cận khác nhau: Về các quy định về trợ cấp thời kỳ GATT 1947: quy định về trợ cấp thời kỳ GATT 1947 không được nghiên cứu phổ biến ở nhóm tài liệu trong nước, tuy nhiên có thể nhận thấy trong các tài liệu nước ngoài. Tác giả Melaku Geboye Desta (2002) đã nghiên cứu các quy định về trợ cấp xuất khẩu và hỗ trợ trong nước đối với sản phẩm nông nghiệp dưới thời kỳ ITO-GATT 1947 cũng như các quy định sửa đổi GATT vào năm 1955 và Đạo luật trợ cấp 1979. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của Melaku Geboye Desta không bao hàm tất cả các quy định trợ cấp trong thời kỳ này mà tập trung nghiên cứu các quy định về trợ cấp xuất khẩu và hỗ trợ trong nước đối với sản phẩm nông nghiệp. Luengo Hernandez de Madrid (2006) đã đưa ra một nghiên cứu về các quy định trợ cấp dưới thời kỳ GATT với nội dung rộng hơn so với nghiên cứu trên.
Cụ thể tại chương 3 của nghiên cứu, 74, tr 35-96 tác giả đã phân tích đến sự ra đời và phát triển các quy định về trợ cấp trong WTO từ bản khởi đầu, dự thảo Hiến chương Havana, tiếp theo đó là GATT 1947 và các sửa đổi, sau nữa là Đạo luật trợ cấp – kết quả của vòng đàm phán Tokyo, và cuối cùng là các đàm phán trong vòng Uruguay – vòng đám phán đã đưa ra các quy định trợ cấp hiện hành. Nội dung tiếp cận nghiên cứu về quy định trợ cấp dưới thời kỳ GATT 1947 của Gustavo E. Luengo Hernandez de Madrid rộng hơn so với nội dung nghiên cứu của Melaku Geboye Desta. Tuy nhiên Gustavo E.
Luengo Hernandez de Madrid tập trung phân tích nhiều hơn về các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến sự hình thành, thay đổi, phát triển của các quy định trợ cấp “tiền” WTO, hơn là phân tích cụ thể nội dung từng quy định về trợ cấp giai đoạn này. Về quy định của WTO về trợ cấp: các nghiên cứu tập trung phân tích các quy định của WTO về trợ cấp trong phạm vi Hiệp định SCM và AOA. Ở trong nước, hầu hết các nghiên cứu ở mức cơ bản như giáo trình, tài liệu bổ trợ, hay những bài viết trên các trang thông tin điện tử đều nghiên cứu các quy định của WTO về trợ cấp theo xu hướng này, và ở mức mô tả quy định một cách giản lược. Nhóm luận văn cao học và luận án tiến sỹ đã đưa ra những phân tích ở mức độ chi tiết và chuyên sâu hơn.
Điển hình có thể nhắc đến tác giả Đỗ Hồng Quyên 27, tr 71-76 và tác giả Phạm Quang Minh (2012). 28, tr 53-63 Bên cạnh các tác giả trong nước là các tác giả nước ngoài như Raj Bhala (2001), 30, tr 643 Peter Van Den Bossche (2009)… Tiếp 13 cận nghiên cứu pháp luật WTO về trợ cấp một cách tổng quát qua tất cả thời kỳ GATT cho đến WTO có thể thấy trong nghiên cứu của các tác giả như Marh Benitah (2001), Gustavo E. Luenco, Herrianclez de Madrid (2006). Tác giả Malcolm Bosworth, Đỗ Trọng Khanh (9/2005) đã dành một phần trong nghiên cứu để phân tích các quy định về trợ cấp của WTO theo hai nhóm, trợ cấp công nghiệp, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại và trợ cấp nông nghiệp.
23, tr 32-49 Đối với trợ cấp công nghiệp, các tác giả tiếp cận Hiệp định SCM thông qua nghiên cứu một số quy định cơ bản về trợ cấp: khái niệm trợ cấp, trợ cấp bị cấm, trợ cấp có thể bị kiện, các biện pháp đối kháng trợ cấp, các quy định đối xử đặc biệt và khác biệt và các quy định khác. Đối với trợ cấp nông nghiệp, các tác giả tiếp cận nghiên cứu các quy định của AOA đối với trợ cấp xuất khẩu và hỗ trợ trong nước dành cho hàng nông sản. Nghiên cứu cũng đã thể hiện mức độ phân tích chuyên sâu về mặt lý luận của một tham luận khoa học. Các tác giả mô tả pháp luật WTO về trợ cấp một cách đơn giản và ngắn gọn, làm tiền đề nghiên cứu các nội dung khác.
Về trợ cấp nông nghiệp nói riêng, tác giả Phạm Quang Minh (2012) đã nghiên cứu các quy định hiện hành của WTO về trợ cấp nông nghiệp tại chương 2 của luận án. Theo đó, tác giả nghiên cứu lần lượt quy định về trợ cấp nông nghiệp trong các Hiệp định: Hiệp định chung về thương mại và thuế quan - GATT 1994, Hiệp định SCM và AOA. Trong đó phần nghiên cứu của tác giả về GATT 1994 và Hiệp định SCM mang tính khái quát, làm tiền đề cho phần nghiên cứu về AOA. Tác giả đã nghiên cứu về tiếp cận thị trường, hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu theo AOA.
Trong đó, tác giả cho rằng hỗ trợ trong nước là trợ cấp. Về trợ cấp xuất khẩu, tác giả tiếp cận nghiên cứu chưa sâu và chưa chỉ rõ được sự khác nhau về quan điểm trợ cấp xuất khẩu trong AOA và Hiệp định SCM. 28, tr 53-64 Tác giả Melaku Geboye Desta (2002) đã đưa ra một nghiên cứu khá chi tiết. Các quy định về trợ cấp xuất khẩu được tiếp cận tại phần II và hỗ trợ trong nước được tiếp cận tại phần III của nghiên cứu.
Pháp luật về trợ cấp nông nghiệp được Melaku Geboye Desta tiếp cận ở hai giai đoạn: giai đoạn “tiền-WTO” và giai đoạn WTO. Đối với giai đoạn WTO, điểm khác biệt của Melaku Ggeboye Desta so với các tác giả khác là mặc dù phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn đối với sản phẩm nông nghiệp, nhưng tác giả đã kết hợp phân tích các quy định về trợ cấp ở cả hai Hiệp định: Hiệp định SCM và AOA. Cụ thể, Melaku Geboye Desta đưa ra quan điểm phân loại, trợ cấp xuất khẩu hàng nông nghiệp thuộc nhóm trợ cấp bị cấm và hỗ trợ trong nước bao gồm trợ cấp thay thế nhập khẩu và các khoản trợ cấp có thể đối kháng, không thể đối kháng. 14 Tác giả Thomas Weishing Guang (2003) trong “Trade Remedies: Laws on dumping, subsidies and safeguards in China” đã tập trung nghiên cứu về Hiệp định SCM trong mối tương quan so sánh với Quy định về chống trợ cấp của Trung Quốc (ASR).
Thứ nhất, tác giả phân tích các yếu tố cấu thành trợ cấp theo Hiệp định SCM, đã được nhận xét tại phần các nghiên cứu về khái niệm trợ cấp. Thứ hai, tác giả tiếp cận các quy định của Hiệp định SCM về trợ cấp bị cấm, trợ cấp có thể đối kháng và trợ cấp không thể đối kháng. Đối với nội dung này, tác giả chưa làm rõ sự thay đổi quy định của Hiệp định SCM đối với nhóm trợ cấp không thể đối kháng. Thứ ba, tác giả nghiên cứu các chương trình trợ cấp mà Chính phủ có thể áp dụng phù hợp với Hiệp định SCM.
Đây là một nghiên cứu kết hợp nghiên cứu các quy định trợ cấp của WTO và pháp luật chống trợ cấp của Trung Quốc. Tác giả đã áp dụng phương pháp so sánh trong tất cả các nội dung nghiên cứu nhằm chỉ ra sự tương thích và chưa tương thích của Quy định về chống trợ cấp của Trung Quốc với pháp luật WTO về trợ cấp. Do đó, dù ở nhiều nội dung vẫn còn mang tính khái quát, nhưng nghiên cứu đã cung cấp nhiều kiến thức và thông tin bổ ích có thể kế thừa cho các nghiên cứu sau. Nhóm tác giả Gustavo E.
Luenco, Herrianclez de Madrid (2006) đã dành chương 4 trong phần II của cuốn “Regulation of subsidies and state Aids in WTO and EC law” để nghiên cứu Hiệp định SCM 74, tr 97-206. Thứ nhất, nhóm tác giả đã dành một phần lớn trong chương IV để phân tích và dẫn chiếu những tranh chấp liên quan tới khái niệm trợ cấp, đã được nhận xét trong phần các nghiên cứu về khái niệm trợ cấp. Thứ hai, nhóm tác giả đã nghiên cứu các quy định cấm trợ cấm đối với từng loại: trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp thay thế xuất khẩu. Đối với trợ cấp xuất khẩu, các tác giả phân tích rõ các yếu tố “de jure” và “de facto” và Phụ lục 1 của Hiệp định SCM.
Thứ ba, là phần nghiên cứu dành cho trợ cấp không thể đối kháng theo Điều 8 Hiệp định SCM. Và thứ tư, kết quả nghiên cứu dành cho trợ cấp có thể đối kháng theo Điều 5 và Điều 6 của Hiệp định SCM. Các nghiên cứu đối với trợ cấp theo AOA được thể hiện tại chương 5 của cuốn sách. Và chương 6, nhóm tác giả giới thiệu tranh chấp “Hoa kỳ - Các tập đoàn bán lẻ nước ngoài”, một tranh chấp điển hình liên quan đến Hiệp định SCM.
Từ góc độ nghiên cứu chung về pháp luật hiện hành của WTO về trợ cấp, nghiên cứu của nhóm tác giả Gustavo E. Luenco, Herrianclez de Madrid là một nghiên cứu khá chi tiết và đầy đủ, giúp các nhà nghiên cứu sau có thể tham khảo, kế thừa.