Chương 1: Lý thuyết tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu đề tài; Chương 2: Báo in, truyền hình và phát thanh ở Thành phố Hồ Chí Minh; Chương 3: Mức độ và cách tiếp cận các phương tiện truyền thông đại chúng của người dân Thành phố Hồ Chí Minh; 9 Xem Judith Lazar, Sociologic de la communication de masse, Paris, Armand Colin, 1991, tr. Dẫn lại theoTrần Hữu Quang. Xã hội học về truyền thông đại chúng, tr. 10 Dẫn lại Trần Hữu Quang.
Xã hội học báo chí, tr. 8 Chương 4: Nhận diện và phân tích các mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng của các giới công chúng. Thông qua công trình nghiên cứu của PGS. TS Trần Hữu Quang, chúng tôi muốn vận dụng một số lý thuyết tiếp cận và phương pháp nghiên cứu để khảo sát và lý giải ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho tại thôn Măng line (Phường 7, Đà Lạt) và xã Tà Nung (Đà Lạt, Lâm Đồng).
Trong khi đó, Trịnh Duy Luân (chủ biên) thông qua Phát triển xã hội ở Việt Nam (2002) đã trình bày về đời sống văn hóa tinh thần và hoạt động truyền thông đại chúng. Đặc biệt vấn đề hưởng thụ văn hóa ở các nhóm công chúng là hoạt động diễn ra trong thời gian rỗi – tức khoảng thời gian tự do ngoài thời gian dành cho việc lao động kiếm sống, đó là vui chơi, giải trí và bồi dưỡng tinh thần. Qua bài viết, chúng tôi có thể kế thừa để xây dựng định hướng nghiên cứu của mình khi nghiên cứu về hoạt động trong thời gian rỗi của đồng bào dân tộc ít người tại thôn Măng line và xã Tà Nung. Cũng trên tinh thần nghiên cứu thực tiễn, Trần Hữu Quang thông qua Xã hội học báo chí (2006) để trình bày những nội dung chính yếu về truyền thông đại chúng, trong đó bao gồm cách tiếp cận xã hội học đối với các quá trình truyền thông, đối với nghề làm báo và hoạt đông của nhà báo, những quan điểm và những phương pháp phân tích xã hội học về công chúng truyền thông và nội dung truyền thông, cũng như về các tác động xã hội của truyền thông đại chúng.
Đây là một cuốn sách nhằm cung cấp một cách tư duy phân tích xã hội học về hiện tượng truyền thông đại chúng nói chung, cũng như về đời sống báo chí nói riêng. Vì vậy đề tài này là một nghiên cứu để bổ sung một mảng trong bức tranh nghiên cứu này.3 Những nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần. Tác giả Mai Văn Hai thông qua bài viết Đời sống văn hóa tinh thần ở nước ta hiện nay (Tạp chí Xã hội học số 2(74) (2001)) đã mô tả thực trạng đời sống văn hóa tinh thần ở nước ta và rút ra kết luận là “đời sống văn hóa tinh thần của người dân nước ta tuy đã có nhiều bước cải thiện song vẫn còn ở mức thấp. Vì vậy cần phải quan tâm đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân trước cấp độ quản lí văn hóa trong thời gian tới”.
Bài viết này là một nguồn tư liệu quý giúp cho chúng 9 tôi thấy được mô hình văn hóa tinh thần của người dân nước ta và tìm ra mô hình văn hóa tinh thần cho nhóm đối tượng đặc thù là người dân tộc ít người Kơho. Bên cạnh đó, một số tác giả lại đi sâu nghiên cứu về văn hóa của từng nhóm đối tượng cụ thể như Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh (chủ biên) trong cuốn Bình đẳng Giới ở Việt Nam (2008) cho biết, trong cuộc sống, con người cần và có khả năng kết hợp hài hòa giữa công việc và nghỉ ngơi, giữa hoạt động kinh tế với hoạt động văn hóa – tinh thần trong thời gian rỗi. Ngày nay, các phương tiện và điều kiện giải trí về văn hóa – tinh thần ngày càng phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện cho việc đáp ứng nhu cầu của mỗi thành viên trong xã hội. Thông qua quá trình tiếp cận các phương tiện giải trí, đặc biệt là qua các thông điệp truyền thông, các khuôn mẫu và giá trị giới cũng được phổ biến và tác động đến nhận thức, hành vi của người xem.
Về việc sử dụng thời gian rỗi, đây là hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì và phát triển đời sống tinh thần của mỗi cá nhân. Sử dụng thời gian rỗi là thước đo đánh giá khả năng tiếp cận các cơ hội làm phong phú đời sống tinh thần của phụ nữ và nam giới. Truyền thông đại chúng ngày nay, đặc biệt là truyền hình có tác động mạnh mẽ đến nhận thức xã hội. Và đời sống tinh thần thường được xem từ gốc độ nhu cầu tinh thần của cá nhân bao gồm thưởng thức nghệ thuật, hoạt động thể thao giải trí, du lịch, giao tiếp, hoạt động tín ngưỡng.
trong đó, việc giải trí được xem là bộ phận cấu thành quan trọng của nhu cầu tinh thần. Trong nghiên cứu này, đời sống tinh thần của phụ nữ và nam giới được xem xét thông qua hoạt động như đọc sách báo, xem ti vi, nghe đài, chơi thể dục, thể thao, giao tiếp và đi chơi xa mà họ thực hiện trong thời gian rỗi. Bài viết này đã đưa ra các hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần, và trong khuôn khổ luận văn của mình, chúng tôi đã vận dụng để xem xét các hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Kơho dưới ảnh hưởng của truyền thông đại chúng trên ba khía cạnh là hoạt động vui chơi giải trí, hoạt động theo dõi thông tin và hoạt động sinh hoạt văn hóa. Hay Đinh Thị Vân Chi thông qua Nhu cầu giải trí của thanh niên (2003) đã xác định khái niệm thời gian rỗi, theo đó khái niệm này được xác định là đối tượng nghiên cứu của xã hội học và vai trò của giải trí ngày càng được khẳng định trong xã hội hiện đại bởi nó hàm chứa cả hai khía cạnh sinh học và xã hội.
Trong nghiên cứu của mình về nhu cầu giải trí của thanh niên Việt Nam, tác giả đã đưa ra một khung lý thuyết, bao gồm việc xem xét đến nhu cầu, xu hướng giải trí của thanh 10 niên theo nhóm tuổi và khu vực, đồng thời có tính đến mức độ đáp ứng của xã hội đối với các nhu cầu giải trí đối với nhóm tuổi thanh niên11. Bài viết đã cung cấp cho chúng tôi thấy được vai trò của giải trí và các hoạt động diễn ra trong thời gian rỗi, từ đó bổ sung cho bài viết của mình những nguồn tư liệu quý giá. Tính cấp thiết của đề tài. Đời sống văn hóa tinh thần là hoạt động không thể thiếu được trong đời sống con người.
Hoạt động này không trực tiếp làm ra của cải vật chất, nhưng nó có vai trò quan trọng trong việc cân bằng đời sống, giúp con người có được những giây phút thảnh thơi, thư giãn, giải tỏa được sự căng thẳng của trí não; góp phần phục hồi, tái tạo sức lao động. Đời sống văn hóa tinh thần còn có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành và hoàn thiện nhân cách, định hình lối sống của con người. Dù ở nhiều mức độ khác nhau, nhưng mỗi cá nhân đều có nhu cầu văn hóa tinh thần, và việc hưởng thụ đời sống văn hóa tinh thần cũng có nhiều biểu hiện khác nhau qua các thời kỳ, điều này gắn liền với sự phát triển của truyền thông đại chúng, các phương tiện và điều kiện giải trí về văn hóa – tinh thần ngày càng phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện cho việc đáp ứng nhu cầu của mỗi thành viên trong xã hội. Thông qua quá trình tiếp cận các phương tiện giải trí, đặc biệt là qua các thông điệp truyền thông, các khuôn mẫu và giá trị văn hóa cũng được phổ biến và tác động đến nhận thức, hành vi của mỗi người.
Mặt khác, Tây Nguyên là một vùng có diện tích khá rộng với số dân sinh sống khá đông, và tập trung chủ yếu là đồng bào các dân tộc ít người, để tạo dựng một đất nước phát triển vững mạnh và toàn diện; đồng thời tăng cường tinh thần đoàn kết các dân tộc anh em. Trong những năm qua, chính sách của Đảng và nhà nước luôn hướng về các đồng bào dân tộc ít người, đặc biệt là việc đầu tư chăm sóc đời sống vật chất cũng như tinh thần. Tuy nhiên, đồng bào dân tộc ít người sinh sống tại các huyện vùng sâu, vùng xa nên việc đáp ứng được nhu cầu truyền thông đại chúng còn gặp nhiều trở ngại, phải chăng điều đó sẽ làm cho nhu cầu tiếp nhận truyền thông đại chúng của đồng bào dân tộc ít người còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế? Và từ đó làm cho mức độ ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Kơho nói riêng chưa thực sự mạnh và đi sâu vào cuộc sống của họ. Trên địa bàn Tây Nguyên, Lâm Đồng là tỉnh có dân cư sinh sống 11 Trần Thị Vân Anh và Nguyễn Hữu Minh (chủ biên), 2008.
Bình đẳng Giới ở Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, tr. 11 là đồng bào dân tộc ít người chiếm tỷ lệ cao nhất, cụ thể có ba tộc người bản địa là dân tộc Kơho, dân tộc Mạ và dân tộc Churu. Trong đó Kơho là tộc người chiếm số lượng đông nhất.926 người Kơho sinh sống trên đất Lâm Đồng (theo số liệu tổng điều tra tháng 4/1999, cư dân Kơho trên toàn quốc là 129.723 người); theo các nhà dân tộc học, người Kơho bao gồm nhiều nhóm địa phương như Kơho Srê chiếm lượng đông nhất, cư trú chủ yếu tại Gung Ré, Bảo Thuận, Đinh Lạc huyện Di Linh; Kơho K’Yòn sống chủ yếu tại hai xã thuộc huyện Di Linh là Đinh Trang Hòa và Tân Thượng; Kơho Nộp sống chủ yếu tại hai xã Sơn Điền và Gia Bắc huyện Di Linh; Kơho Chil sống chủ yếu trên đại bàn ba xã Đầm Ròn huyện Đam Rông, các xã Đạ Sar, Đạ Chais, Long Lanh của huyện Lạc Dương và một phần nhỏ ở một số xã thuộc huyện Lâm Hà; Kơho Lạch sống chủ yếu ở xã Lát huyện Lạc Dương và một số khu vực nhỏ cận Đà Lạt12.
Những nghiên cứu bước đầu trong lĩnh vực truyền thông, các phương tiện truyền thông và ảnh hưởng của truyền thông đến đời sống văn hóa tinh thần dưới góc độ xã hội học cho đến nay vẫn chỉ chủ yếu tập trung vào giới công chúng tại các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.