Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI 1. Khái quát chung về hoà giải thương mại 1. Khái niệm về hoà giải thương mại Khái niệm hòa giải đã được sử dụng từ hàng ngàn năm nay trong nhiều khía cạnh của đời sống cộng đồng, gia đình và các đơn vị hành chính. Thuật ngữ hòa giải được sử dụng không chỉ để miêu tả việc giải quyết tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân mà còn là việc giải quyết tranh chấp giữa các thương nhân, doanh nghiệp với nhau để tìm kiếm tiếng nói chung, tạo lập môi trường kinh doanh ổn thỏa để cùng phát triển.
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt thì “Hòa giải là làm cho ổn thỏa tình trạng mâu thuẫn, xích mích giữa hai bên” [51, tr. 815] Từ điển Luật học định nghĩa hòa giải là “thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết tranh chấp của mình một cách ổn thỏa. Thông thường, việc hòa giải được tiến hành sau khi thương lượng (khiếu nại) giữa các bên đã không đạt được kết quả”. 365] Luật mẫu của UNCITRAL về hòa giải định nghĩa: “Hòa giải là một trình tự được hiểu là trình tự hòa giải, trung gian hoặc một thể hiện tương tự mà các bên yêu cầu bên thứ ba (hòa giải viên thương mại) trợ giúp các bên đạt được thỏa thuận giải quyết tranh chấp; hòa giải viên thương mại không có thẩm quyền áp đặt các bên (1) tuân theo một giải pháp nào”.
Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về Hòa giải thương mại định nghĩa: “Hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp theo quy định của Nghị định này.” (1) Xem Nhà Pháp luật Việt – Pháp: Tuyển tập một số văn bản về Trọng tài và Hòa giải thương mại, NXB Từ điển Bách khoa, 2010, Trang 147-148. 7 Như vậy có thể rút ra kêt luận rằng hòa giải thương mại là phương pháp để giải quyết tranh chấp, là quá trình mà tại đó hòa giải viên thương mại tạo điều kiện giao tiếp và đàm phán giữa các bên để hỗ trợ họ trong việc đạt được một thỏa thuận tự nguyện về tranh chấp của họ. Đặc điểm của hoà giải thương mại Hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại với sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian hòa giải, gọi là hòa giải viên thương mại.Nhiệm vụ của hòa giải viên thương mại là hỗ trợ, đưa ra giải pháp thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm và thỏa thuận các giải pháp nhằm loại bỏ hay chấm dứt các vấn đề đã xảy ra tranh chấp. Hòa giải thương mại có các đặc điểm chính như sau: - Thứ nhất, hòa giải thương mại là hòa giải các bất đồng xảy ra trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại giữa các chủ thể với nhau.
Hòa giải thương mại chỉ diễn ra khi các bên thống nhất lựa chọn phương thức hòa giải là phương án giải quyết các vấn đề tranh chấp; hoặc khi ký hợp đồng, các bên đã dự liệu và đưa vào hợp đồng điều khoản là lựa chọn phương thức hòa giải cho các tranh chấp phát sinh, nếu có. Nhiệm vụ của hòa giải viên thương mại là việc điều chỉnh, làm trung gian cho việc giải quyết các mâu thuẫn phát sinh mà các bên không lường trước được khi soạn thảo và ký kết hợp đồng thương mại. - Thứ hai, khác với thương lượng, là hòa giải có người trung gian hòa giải hay còn gọi là hòa giải viên tham gia vào giải quyết quá trình tranh chấp. Tuy nhiên, vai trò của hòa giải viên không mang tính áp đặt ý kiến cho các bên tranh chấp, mà hòa giải viên chỉ đưa ra các giải pháp, khuyến nghị sau khi phân tích hồ sơ do các bên cung cấp; sử dụng kỹ năng mềm dẻo của mình trong phiên họp hòa giải nhằm đưa ý kiến các bên xích lại gần nhau để đi đến một thỏa thuận hòa giải.
Quyền quyêt định cuối cùng vẫn thuộc về các bên tranh chấp, hòa giải viên chỉ có vai trò là một người đồng hành cùng các bên tranh chấp thống nhất các thỏa thuận giải quyết tranh chấp mà thôi. 8 - Thứ ba, quá trình hòa giải tranh chấp thương mại diễn ra tự nguyện giữa các bên tranh chấp; quy trình hòa giải cũng mang tính chất tùy nghi, do các bên thống nhất lựa chọn chứ không có một quy định kỹ thuật pháp lý bắt buộc nào. - Thứ tư, biên bản hòa giải thành được thực thi cũng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên tranh chấp, trường hợp một trong các bên không tuân thủ thỏa thuận thì một trong các bên có quyền đưa ra khởi kiện tại trung tâm trọng tài hay tòa án. Phân loại hoà giải thương mại Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian hòa giải nhằm thuyết phục, hỗ trợ các bên tranh chấp tìm kiếm một giải pháp chung nhằm hạn chế hay triệt tiêu những bất đồng,mâu thuẫn mà hai bên tranh chấp đều chấp nhận được.
Hòa giải là giải pháp mang tính chất tự nguyện, tùy thuộc vào sự lựa chọn của các bên. Đặc biệt là bên thứ ba, hòa giải viên, với tính chất là trung gian hòa giải phải có vị trí độc lập với các bên; hòa giải viên không ở vị trí xung đột lợi ích đối với các bên hoặc không có những lợi ích gắn liền với lợi ích của một trong các bên trong vụ việc đang tranh chấp. Với sự thỏa thuận của các bên, hòa giải viên phải khéo léo phân tích vụ việc theo quy định của pháp luật, theo sự công bằng xã hội, theo hoàn cảnh cảm xúc của các bên để hòa giải các quan điểm khác nhau của các bên, làm “mềm” hóa ngôn ngữ, cảm xúc phi ngôn ngữ của các bên… để hướng các bên theo quy trình hòa giải mà hòa giải viên cho là phù hợp theo tiến trình vụ việc với nguyên tắc vô tư, công bằng và tuân theo pháp luật. Có hai loại hòa giải cơ bản là hòa giải vụ việc và hòa giải quy chế.
Hòa giải vụ việc (Ad hoc Conciliation/mediation) là phương thức tổ chức giải quyết vụ việc do các bên tự tổ chức và giám sát, bao gồm cả hòa giải viên mà không có sự trợ giúp của bất kỳ tổ chức nào. (Quy tắc hòa giải của Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế - UNCITRAL, hướng dẫn cơ bản về hòa giải thương mại theo vụ việc. Quy tắc này cũng đã được khuyến nghị với các nhà kinh doanh thương mại quốc tế trong nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hiệp quốc ngày 04/12/1980). Hòa giải theo vụ việc thường thành lập theo sự thỏa thuận của 9 các bên hoặc theo điều khoản ghi trong hợp đồng sau khi tranh chấp đã xảy ra.
Các quy tắc hòa giải có thể do các bên tự soạn thảo hay giao cho hòa giải viên soạn thảo, và các bên đều thống nhất. Các bên cũng có thể thỏa thuận quy tắc hòa giải thương mại của một tổ chức quốc tế có uy tín như Ủy ban pháp luật thương mại quốc tế của (2) Liên hiệp quốc. Hòa giải vụ việc được sử dụng rộng rãi trong các tranh chấp thương mại ở nhiều quốc gia trên thế giới. Pháp luật về hòa giải ở các nước trên thế giới đều có những hướng dẫn chi tiết cho hình thức hòa giải này, dù quy định của các nước có khác nhau về hình thức, tiêu chuẩn ở mức độ sâu rộng có khác nhau.
Bản chất của hòa giải vụ việc có những đặc điểm sau: - Thứ nhất, hòa giải vụ việc chỉ được thành lập khi các bên tranh chấp lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp vụ việc bằng hòa giải và nó sẽ tự động giải thể khi các bên đã giải quyết xong tranh chấp hay một bên hoặc các bên tuyên bố không sử dụng phương phương thức hòa giải này để giải quyết tranh chấp. Hòa giải vụ việc mang tính chất lâm thời thể hiện rõ ở việc thành lập phiên hòa giải theo thỏa thuận của các bên tranh chấp để giải quyết vụ việc cụ thể của các bên. Hình thức hòa giải này chỉ tồn tại và hoạt động trong thời gian giải quyết tranh chấp của các bên và chấm dứt ngay khi các bên có kết quả hòa giải. - Thứ hai, hòa giải vụ việc không có trụ sở,không có bộ máy quản lý, vì nó chỉ được thành lập lâm thời theo vụ việc trong một thời gian nhất định và nó tự giải thể khi các bên đã thống nhất thỏa thuậnn giải quyết tranh chấp.
- Thứ ba, hòa giải theo vụ việc do các bên tự lựa chọn hòa giải viên theo ý định hay quan điểm riêng của mình, không theo một danh sách hòa giải viên do bất kỳ cơ quan, tổ chức nào ấn định. Hòa giải viên do các bên lựa chọn có thể là hòa giải viên trong danh sách do cơ quan quản lý nhà nước công nhận hay không công nhận đều được cả, trừ trường hợp sự lựa chọn đó vi phạm các điều cấm của pháp luật hay vi phạm thuần phong mỹ tục của xã hội. (2) Chang-fa Lo & Winnie Jo-Mei Ma, Draft “Convention on Cross-border Enforcement of International Mediated Settlement Agreements” trình bày tại Hội thảo quốc tế về Trọng tài và Hòa giải tại Đài Bắc, tháng 9/2015. 10 - Thứ tư, như đã nói ở trên, hòa giải theo vụ việc không có quy tắc hòa giải chuẩn riêng của mình, mà do các bên tự dự thảo và thống nhất để giải quyết riêng vụ việc nhất định.
Tuy nhiên thông thường các bên sẽ lựa chọn một quy tắc hòa giải mang tính chất phổ biến để áp dụng, nhằm tiết kiệm thời gian và sự tranh cãi không cần thiết nếu phải xây dựng quy tắc riêng cho vụ việc. Ở Việt Nam trước đây, hòa giải trong các vụ tranh chấp kinh doanh thương mại chỉ diễn ra ở tòa án, và là một phần trong quy trình tố tụng dân sự; kể khi có Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, hòa giải theo vụ việc trong tranh chấp kinh doanh thương mại mới được cụ thể hóa trong Khoản 6, Điều 3: “Hòa giải thương mại vụ việc là hình thức giải quyết tranh chấp do hòa giải viên thương mại vụ việc được các bên lựa chọn tiến hành theo quy định của Nghị định này và thỏa thuận của các bên.