Chương 1: Khái quát chung về hoạt động tiểu thủ công nghiệp tại các đô thi. Chương 2: Phân tích hoạt động tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn thành phố Lào Cai. Chương 3: Giải pháp tăng cường hoạt động tiêu thủ công nghiệp trên địa bàn thành phố Lào Cai. SV: Phạm Thị Yến Lớp: Kinh tế và quản lý đô thị 55 Chuyên đề thực tập 4 GVHD: TS.Bui Thị Hoàng Lan CHUONG I: KHÁI QUAT CHUNG VE HOẠT ĐỘNG TIỂU THU CONG NGHIỆP TẠI CÁC ĐÔ THI.
Ở Việt Nam trong chính cương của Đảng lao động Việt Nam (1951) lần đầu tiên đã nói đến thuật ngữ công nghiệp, thủ công nghiệp. Mặc dù các văn bản chính thức của Nhà nước chỉ dùng chung một thuật ngữ “thủ công nghiệp” nhưng đều hiểu rằng nó bao gồm cả công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Ngày nay với sự phát triển của khoa học công nghệ con người đã biết sử dụng các trang thiết bị kỹ thuật thay cho sức người trong các khâu sản xuất thủ công nghiệp, chính vì vậy mà các nhà nghiên cứu đã đề xuất ý kiến nên bỏ thuật ngữ “thủ công nghiệp” mà thay vào đó là dùng thuật ngữ “tiêu thủ công nghiệp”. Có những quan niệm cho rằng tiểu thủ công nghiệp (TTCN) là ngành sản xuất chủ yếu dựa vào đôi tay của con người; các sản phẩm thường mang tính phường hội và ban sắc truyền thống cùng những bí quyết riêng của từng ngành nghề, từng địa phương.
Trong điều kiện hiện nay do trình độ khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng, các nước trên thé giới đã trải qua những cuộc cách mạng công nghệ thì việc đưa máy móc thiết bị hiện đại vào sản xuất TTCN là điều tất yếu. Một số công đoạn máy móc còn thay thế một phần thậm chí hoàn toàn cho sức người dé nâng cao hiệu quả sản xuât. Tổ chức phát triển công nghệ Liên Hiệp Quốc (UNIDO) cũng đã đề nghị thay đổi khái niệm nghề thủ công bằng khái niệm công nghiệp truyền thống. Phát triển TTCN là hướng đi cơ bản, góp phần chuyên dịch cơ cấu kinh tế.
Từ điển bách khoa của nhà xuất bản Mac Milan Conpany đã viết: “Thủ công nghiệ vừa là một cách thức sản xuất có tính công nghiệp, vừa là một dạng hoạt động có tính chất mỹ thuật”. Như vậy ngành nghề TTCN còn là một trong những nơi lưu giữ và thể hiện bản sắc dân tộc một cách tinh tế nhất. Tiểu thủ công nghiệp là một lĩnh vực sản xuất có quan hệ với sản xuất công nghiệp, TTCN được coi là một lĩnh vực vừa độc lập, vừa phụ thuộc với công nghiệp. Xét về trình độ kỹ thuật và hình thức tổ chứ sản xuất thì TTCN chính là hình thức phát triển sơ khai của công nghiệp.
Trong quá trình phát triển lịch sử, ngành công nghiệp đã trải qua hình thái tiểu thủ công nghiệp, ở đây tiểu thủ công nghiệp có thé là: Thủ công nghiệp và tiêu công nghiệp. SV: Phạm Thị Yến Lớp: Kinh tế và quản lý đô thị 55 Chuyên đề thực tập 5 GVHD: TS.Bui Thị Hoàng Lan Tiểu thủ công nghiệp phát sinh và phát triển cùng xã hội loại người. Ở các xã hội phát triển tư bản gọi là sản xuất tiểu thủ công nghiệp đảm bảo toàn bộ các sản phẩm lao động và tiêu dùng của con người, trừ các sản phâm nông nghiệp. Với quá trình phát trié của nền công nghiệp hiện đại ngày nay thì tiêu thủ công nghiệp can được xác định rõ ràng hơn.
Theo một số tác giả mới nghiên cứu về ngành nghề TTCN gần đây có định nghĩa về TTCN như sau: “Tiểu thủ công nghiệp bao gồm toàn bộ cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ, được tiễn hành bằng các kỹ thuật thủ công nghiệp kết hop với máy móc cơ khí, chuyên sản xuất các mặt hàng tiêu dùn phi nông nghiệp truyền thống được tiến hàng sản xuất 6 nông thôn, ở làng nghé, thi tran, thi tir, d6 thi. Đặc trưng của các hoạt động tiểu thủ công nghiệp. * Đặc điểm của sản phẩm Sản phẩm của ngành nghề TTCN được sản xuất đơn lẻ, thậm chí độc nhất. Những sản phẩm của TTCN thường được tạo ra bởi bàn tay của những nghệ nhân tài hoa, thậm chí cò mang tính bí truyền trong từng sản phẩm.
Các sản phầm của TTCN có chu kì sản xuất thường ngăn, sản pham chủ yếu là hàng hóa tiêu dùng, it dùng làm tư liệu sản xuất. Hàng hóa thường vượt ra ngoài những giá trị lợi ích kinh tế thông thường, chứa đựng cả những giá trị về văn hóa, bản sắc dân tộc. Các sản phẩm thường gan liền với yêu tố thâm mỹ và thị hiếu của người tiêu dùng cho nên đòi hỏi kèm theo đó là trình độ thâm mỹ cũng như tay nghề của người lao động. * Đặc điểm về lao động và sử dụng lao động Lao động trong ngành nghề TTCN là một dạng lao động thích hợp cho từng hộ gia đình và thường mang tính kế truyền.
Lao động sử dụng chủ yếu là lao động tại chỗ và thường được chia ra làm hai loại: lao động gia đình và lao động đi thuê. Quy mô lao động nhỏ, số lượng laođộng bình quân của một hộ gia đình thường khoảng 3-4 lao động thường xuyên và 2-3 lao động thời vụ. Ở một cơ sở sản xuất thì bình quân có khoảng 10-20 lao động thường xuyên và 10-15 lao động thời vụ. Lao động có trình độ văn hóa thấp, chưa qua đảo tạo ở các cơ sở sản xuất chiếm khoảng 40%, còn ở hộ gia đình chiếm khoảng 70%; bởi lẽ với hình thức sản xuất hộ gia đình hầu hết là đi lên từ gia đình thuần nông nên thường sử dụng lao động tự có của gia đình hoặc lao động địa phương chưa qua đào tạo.
SV: Phạm Thị Yến Lớp: Kinh tế và quản lý đô thị 55 Chuyên đề thực tập 6 GVHD: TS.Bui Thị Hoàng Lan Có những ngành nghề đòi hỏi lao động có tay nghề cao và con mắt thâm mỹ do đó lao động thường là những nghệ nhân, thợ lành nghé.Nguoc lại có những công việc đơn giản không đòi hỏi tay nghề của người lao động như: khuân vác, vận chuyên hàng hóa. Có những công việc lại đòi hỏi người lao động có kiến thức chuyên môn nhât định như các ngành liên quan đên máy móc móc, sửa chữa. Như vậy lao động trong ngành nghề TTCN vừa là những người có chuyên môn và không chuyên, vừa là những người có trình độ tay nghề cao nhưng đồng thời cũng là những người có tính thâm mỹ cao. Lao động được sử dụng còn tùy thuộc vào lĩnh vực sản xuất.
Nhưng nhìn chung việc phát triển ngành nghề TTCN đã và đang góp phần giải quyết việc làm cho rất đông bộ phận người lao động tại đô thị và cả nông thôn, đặc biệt là những lao động dư thừa, nhàn TÔI. * Nguyên liệu đầu vào. Nguyên liệu cung cấp cho các hoạt động sản xuất của TTCN chủ yếu là từ địa phương và các địa phương khác trong nước. Đó là các sản phẩm của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và khai khoáng.
Một phần nhỏ nguyên liệu được nhập từ nước ngoai, chủ yếu phục vụ cho việc cải tiến và nâng cao chất lượng mẫu mã sản phẩm. Do qua trình sản xuất ngày càng gia tăng nhưng lại chưa có biện pháp đề bảo tổn và tái tạo nên có một số nguồn nguyên liệu đang có xu hướng cạn kiệt và khan hiếm gây cản trở cho quá trình phát triển của một số ngành nghề. Sự khai thác bat hợp lý các nguyên liệu quý đã làm cho giá nguyên vật liệu không 6n định, sản xuất kém chủ động từ đó kéo theo giá thành sản phẩm tăng, sức cạnh tranh không cao. * Về kỹ thuật sản xuất Đặc trưng của tiêu thủ công nghiệp là đôi khi đơn giản trong khâu kỹ thuật.
Nếu như đối với công nghiệp thì đỏi hỏi máy móc trang thiết bị hiện đại, công nghệ cao thì với tiểu thủ công nghiệp được sản xuất trên cơ sở đơn giản về mặt kỹ thuật cũng như quy trình sản xuất. Đôi khi kỹ thuật còn không đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất thậm chí đôi khi nó còn mang tính truyền thống trong một thời gian dải. * Tinh linh hoạt trong sản xuất Xuất phát điểm từ việc đơn giản trong máy móc sản xuất nên các loại máy SV: Phạm Thị Yến Lớp: Kinh tế và quản lý đô thị 55 Chuyên đề thực tập 7 GVHD: TS.Bùi Thi Hoàng Lan móc thiết bi được sử dung trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp đều là các loại phổ thông; do đó việc chuyên từ sản xuất mặt hàng này sang sản xuất mặt hàng khác là khá đơn giản. Đồng thời nguồn vốn yêu cầu cũng khá thấp do chi phí đầu vào không cao tạo ra sự linh hoạt và mềm dẻo trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp.
* Sw gọn nhẹ về quan ly. Với hình thức san xuất chủ yếu là các cá thé, hộ gia đình và hợp tác xã. Do vậy ở quy mô sản xuất nhỏ nên một cá nhân có thể trực tiếp thực hiện nhiều khâu; từ quản lý cho tới sản xuất. Hoạt động quản lý ở đây cũng chủ yếu xuất phát từ kinh nghiệm cá nhân chứ không đòi hỏi kiến thức chuyên môn cao như đối với các doanh nghiệp quy mô lớn.
Sản phẩm của tiểu thủ công nghiệp khá đơn giản nên không đòi hỏi quá cao về quy trình sản xuất và tat cả các cá nhân có thé linh động tương trợ lẫn nhau. Hơn nữa hầu hết các cơ sở sản thường chỉ sản xuất một hoặc một vài sản phẩm và theo một quy trình nhất định nên quá trình quản lý cũng không đòi hỏi quá khắt khe. * Thị trường tiêu thụ sản phẩm. Sản phẩm của TTCN có đến trên 75% được tiêu thụ trong nước.
Số sản pham còn lại được tham gia xuất khâu chủ yếu là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ hay dét may truyền thống. Sản phẩm TTCN nhìn chung còn đơn điệu, mẫu mã chưa phong phú, chưa theo kịp với thị hiểu của người tiêu dùng trong nước đặc biệt là nước ngoai. Người tiêu dùng luôn tìm tòi, khám phá những nét tinh hoa văn hóa dân tộc độc đáo trên mỗi sản phẩm. Do chu kỳ sản xuất các sản phâm ngắn nên khi hàng hóa bị ứ đọng sẽ tác động ngay đến đời sống của người sản xuất.
Một điều quan trọng nữa là các sản phẩm của TTCN da phần thường gắn liền với yếu tố thẩm mỹ nên việc nam bắt và đón đầu xu hướng và thị hiếu của người tiêu dùng a điều hết sức quan trọng. Sự phát triển của hoạt động tiểu thủ công nghiệp đến nền kinh tế đô thị. Tiểu thủ công nghiệp được phân loại theo một số ngành nghề sản xuất thé mạnh và đem lại nguồn thu tương đối ổn định.