CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VE HOAT ĐỘNG GIAO NHAN VAN TAI HANG HOA QUOC TE Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Anh Minh Ngô Hoàng Long 11 Kinh doanh quốc tế 46B 1.1 Tổng quan về kinh doanh dịch vụ quốc tế 1.1 Khái niệm dịch vụ và sự hình thành thị trường dịch vụ quốc tế 1.1 Dịch vụ Trong nền kinh tế ngày nay không chỉ đơn thuần có các sản phẩm vật chất cụ thé hay gọi là hang hóa mà bên cạnh đó còn ton tại các sản phẩm vô hình, được gọi là sản phẩm dịch vụ. Cả hàng hóa và dịch vụ đều là sản phẩm của quá trình lao động sản xuất của con người và để phục vụ nhu cầu của con người, chúng đều có giá trị và giá trị sử dụng, song hàng hóa là sản phẩm hữu hình còn dịch vụ là sản phẩm vô hình. Do sự đa dạng về chủng loại và là một sản phẩm có tính vô hình, khái niệm dịch vụ được nhìn nhận theo các nghĩa rộng hẹp khác nhau, tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, phương pháp luận kinh tế của mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn lịch sử cũng như phương pháp luận, đối tượng và mục đích nghiên cứu của các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau: - Theo nghĩa rộng: dich vụ được hiéu là một ngành kinh tế thứ ba ngoài công nghiệp và nông nghiệp, có nghĩa là những lĩnh vực hoạt động nằm ngoai hai ngành công nghiệp và nông nghiệp như hàng không, thông tin.
đều được coi là dịch vụ. - Theo nghia hep: dich vu la phan mềm của sản phẩm, hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh trước, trong và sau khi ban. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng tựu trung lại dịch vụ là sản phẩm của quá trình lao động của con người này nhằm thỏa mãn nhu cầu của những con người khác, nó không tôn tại đưới hình thái vật thé và không dẫn đến việc chuyên giao quyên sở hữu như các sản phẩm hàng hóa hữu hình.12 — Sự hình thành thị trường dich vụ quốc té Trước day, trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp ngoài việc sản xuất hàng hoá, liên hệ tìm kiếm khách hàng còn phải tự thực hiện việc vận chuyển hàng hoá từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ, việc mua bán và thanh toán được diễn ra trực tiếp giữa người sản xuất và người tiêu thụ, giữa người bán và người mua. Việc này khiến cho các doanh nghiệp tốn rất nhiều thời gian, chi phí và công sức, và không phải doanh nghiệp nào cũng có thể tự mình thực hiện tất cả các công việc đó.
Điều này khiến cho khối lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường là rất nhỏ, tốc độ lưu thông hàng hoá chậm, hiệu quả kinh doanh không cao. Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Anh Minh Ngô Hoàng Long 12 Kinh doanh quốc tế 46B Sự phát triển của trình độ sản xuất cùng với quá trình chuyên môn hoá diễn ra mạnh mẽ đã làm tăng nhu cầu trao đôi hàng hoá giữa các vùng, lãnh thổ, quốc gia, từ đó diễn ra sự phân công lao động xã hội. Với sự phân công này, một số công đoạn của quá trình phân phối và tiêu thụ hàng hoá đã được tách riêng ra, và dẫn tới sự hình thành các doanh nghiệp chuyên phục vụ việc vận chuyên hàng hoá, các tổ chức môi giới giữa người bán và người mua.
Điều này làm tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, tiết kiệm được chi phí và thời gian so với việc tự mình thực hiện. Nhận thức được điều đó, các hãng kinh doanh đều có xu hướng chuyên từ việc sử dụng các dịch vụ nội bộ sang sử dụng các dịch vụ bên ngoài được cung cấp bởi các nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp, từ đó có điều kiện tập trung vào nhiệm vụ chính là sản xuất kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá. Ngày nay, quá trình toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ, trong nền kinh tế toàn cầu mở, các doanh nghiệp không chỉ hoạt động trong nước mà còn kinh doanh trên các thị trường nước ngoài, thậm chí trên khắp toàn cầu thì nhu cầu sử dụng các dịch vụ quốc tế chuyên nghiệp ngày càng lớn. Đặc biệt đối với hoạt động kinh doanh quốc tế khi mà doanh nghiệp còn gặp phải rất nhiều khó khăn về mặt địa lý, luật pháp, văn hoá hay tập quán quốc tế ., thi vai trò của dịch vụ ngày càng trở nên quan trọng.
Vì vậy, thị trường dịch vụ quốc tế đã ra đời và phát triển mạnh mẽ dé đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng.2 Khai niệm kinh doanh dich vụ quốc tế Kinh doanh dịch vụ quốc tế được hiểu là toàn bộ các hoạt động sản xuất và cung ứng các dịch vụ trên thị trường quốc tế, nhằm mục tiêu thu lợi nhuận. Kinh doanh dịch vụ quốc tế có thể được hiểu qua 4 phương thức cung ứng dịch vụ sau: - _ Cung ứng vượt qua biên giới: là hành vi cung ứng dịch vụ từ lãnh thổ quốc gia này sang lãnh thổ một quốc gia khác. Ví dụ, một công ty Anh cung cấp cho một công ty Trung Quốc dịch vụ tư vấn pháp luật qua điện thoại. - Tiêu dùng ngoài quốc gia: Người tiêu dùng sử dung dịch vụ tại một quốc gia không phải quốc gia của họ.
Ví dụ, người Nhật sang Mỹ đề chữa bệnh. - Su hiện diện thương mại: Một công ty nước ngoài thành lập công ty, chi nhánh hay văn phòng đại diện tại một nước khác dé cung cấp dich vụ cho khách hang nước đó. Vi dụ, ngân hang Maybank ( Malaysia ) lập chi nhánh tại Việt Nam và cung Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Anh Minh Ngô Hoàng Long 13 Kinh doanh quốc tế 46B cấp dịch vụ ngân hàng.
- _ Hiện điện của thé nhân: Thể nhân của một nước trực tiếp cung ứng dịch vụ tại một nước khác. Ví dụ, thầy giáo Pháp dậy học cho một trường đại học tại Mỹ.3 Các lĩnh vực kinh doanh dịch vụ quốc tế chủ yếu Các hoạt động kinh doanh dịch vụ quốc tế bao trùm hầu hết tất cả những loại dịch vụ đã có hiện nay. Tuy nhiên, trong xu hướng phát triển của kinh tế thế gidi vai thập niên trở lại đây, một số lĩnh vực KDDVOQT đã phát triển rat nhanh và cũng ngày càng lớn mạnh, bao gồm: 1.1 Dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu Giao nhận và vận tải hàng hóa là một khâu không thê thiếu trong quá trình lưu thông, nhằm đưa hàng hóa từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ một cách nhanh chóng va ít tốn kém nhất. Sự phát triển của các dịch vụ giao nhận và vận tải hàng hóa xuất nhập khâu đã ảnh hưởng lớn tới phạm vi, khối lượng mặt hàng và kim ngạch buôn bán của các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế.
Các dịch vụ giao nhận và vận tải hàng hóa xuất nhập khâu được chia thành các loại sau: — Dich vụ môi giới và ký kết hợp đồng vận tải hàng hóa xuất nhập khâu: đây là địch vụ nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu lựa chọn phương thức chuyên chở và hãng chuyên chở, đảm bảo việc ký kết hợp đồng được chặt chẽ và an toàn. Nó đòi hỏi người cung cấp dịch vụ phải rất am hiểu về thị trường, các hãng tầu, sự vận động của giá cước, luật pháp quốc tế, tập quán thương mại quốc z Lê te. — Dich vụ giao nhận hang hóa xuất nhập khẩu: Trong hoạt động xuất nhập khẩu, người mua và người bán không trực tiếp giao nhận hàng mà thông qua trung gian là các đại lý hay người chuyên chở chuyên nghiệp. Đại lý giao nhận hoặc người chuyên chở sẽ ký hợp đồng vận chuyên hàng hóa với người ủy thác và chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hóa trên cở sở hóa đơn thương mại và các giấy tờ có liên quan để giao hàng cho người nhận, trên cơ sở sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác.
— Dich vụ bốc xếp, đỡ hàng hóa xuất nhập khẩu: Hàng hóa trong quá trình vận chuyền dé đưa vào lưu thông đều phải qua quá trình bốc, xếp, đỡ lên các phương tiện vận chuyên. Quá trình này cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong ngoại thương, Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Anh Minh Ngô Hoàng Long 14 Kinh doanh quốc tế 46B nếu các doanh nghiệp tự làm mà không có chuyên môn, kinh nghiệm thì dé gây hỏng hóc hay mất mát hàng hóa. Vì vậy, các dịch vụ bốc, xếp, đỡ hàng hóa chuyên nghiệp đã phát triển nhanh chóng.
Hiện nay, ở các cảng biển và các cảng hàng không đều có các doanh nghiệp chuyên kinh doanh dịch vụ bốc, xếp, dỡ hàng hóa xuất nhập khẩu với day đủ phương tiện, co sở vật chất, công nhân lành nghề, có kinh nghiệm. xếp dỡ hàng hóa theo yêu cầu của khách hàng, và tùy theo đặc điểm của mỗi loại hàng hóa. — Dich vụ kho ngoại quan: Một số trường hợp, hàng hóa đến cảng không được xếp đỡ ngay mà phải qua kho trung chuyên do chủ hàng chỉ định hoặc do điều kiện cảng biển không cho phép xếp nhiều hàng hóa ở cầu cảng gọi là kho ngoại quan. Hàng hóa được lưu kho tại kho ngoại quan dé làm các thủ tục như: tập kết hàng hóa thành lô, tập kết hàng lẻ , làm các thủ tục hải quan, kê khai hải quan, kiểm định chất lượng hàng hóa, kiểm tra y tế.
— Dich vụ vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu: dịch vụ vận chuyển hàng hóa là một khâu quan trọng trong dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu. Hiện nay, vận tải hàng hóa bằng đường biên vẫn là chủ yếu do những ưu điểm của vận tải biển như chi phí rẻ, khối lượng hàng hóa chuyên chở lớn. Vận tải biển chiếm khoảng 80% khối lượng vận chuyên hàng hóa xuất, nhập khâu trên thế giới.2 Dịch vụ tư vấn ngoại thương Hoạt động kinh doanh quốc tế do chịu ảnh hưởng của thương mại quốc tế nên phải đối mặt với nhiều rủi ro khác nhau và rất khó lường trước. Dé an toàn hơn trong kinh doanh thì các doanh nghiệp rat cần tham khảo ý kiến tư van của các công ty chuyên nghành.
Do vậy, dịch vụ tư vẫn ngoại thương đã ra đời và phát triển rất đa đạng: — _ Dịch vụ tư vấn pháp lý: Cung cấp các thông tin về luật pháp quốc gia, luật pháp quốc tế, các tập quán thương mại quốc tế. trên cơ sở đó đưa ra các lời khuyên, kinh nghiệm cho các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế trong quá trình soạn thảo, ký kết hợp đồng, hay giải quyết các tranh chấp phát sinh trong kinh doanh.