Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÀNG NGHỀ VÀ CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH ĐỂ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 1. VAI TRÒ CỦA LÀNG NGHỀ TRONG SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN 1. Quan điểm về làng nghề Trong quá trình phát triển của lịch sử cũng như hiện nay đều cho thấy, làng xã có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất, cũng như trong đời sống dân cư ở nông thôn. Trải qua bao biến đổi, những lệ làng, phép nước và phong tục tập quán ở nông thôn vẫn được duy trì, phát triển đến ngày nay.
Có thể nói, làng xã là nơi sản sinh ra nghề thủ công truyền thống và các sản phẩm mang dấu ấn tinh hoa của nền văn hoá, văn minh dân tộc. Nghiên cứu làng nghề để từ đó xem xét những tác động của các giải pháp tài chính sẽ ảnh hưởng như thế nào đến làng nghề và hiệu quả của chúng sẽ ra sao. Trên cơ sở đó sẽ đưa ra cái nhìn mới, chính xác hơn, phù hợp hơn. Làng nghề được quan niệm là cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng) có một tỷ lệ lao động nhất định làm một hay một số nghề thủ công được tách ra khỏi nông nghiệp và sản xuất kinh doanh (SXKD) độc lập.
Hiện nay cũng còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về làng nghề. Quan điểm thứ nhất: Làng nghề truyền thống là một cộng đồng dân cư, cư trú trong phạm vi một địa bàn tại các vùng nông thôn tách rời khỏi sản xuất nông nghiệp (SXNN), cùng làm một hoặc nhiều nghề thủ công có truyền thống lâu đời, để sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm bán ra thị trường để thu lợi nhuận. Quan niệm này mới thể hiện được yếu tố truyền thống lâu đời của làng nghề. Còn những làng nghề mới, những tuân thủ yếu tố truyền thống của vùng hay của khu vực chưa được đề cập [68].
Quan điểm thứ hai: Làng nghề truyền thống là những làng nghề làm nghề thủ công có truyền thống lâu năm, thường là qua nhiều thế hệ. Quan điểm này cũng chưa đầy đủ, khi nói đến làng nghề truyền thống, vì không thể chỉ chú ý đến các mặt đơn lẻ, mà phải chú trọng đến nhiều mặt trong cả không gian và thời gian, 15 nghĩa là quan tâm đến tính hệ thống, toàn diện của làng nghề đó, trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, kỹ thuật sản xuất và thủ pháp nghệ thuật [68]. Quan điểm thứ ba: Làng nghề truyền thống là những làng có tuyệt đại bộ phận dân cư làm nghề cổ truyền. Nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác theo kiểu cha truyền con nối hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm.
Trong làng sản xuất mang tính tập trung, có nhiều nghệ nhân tài hoa và một nhóm người có tay nghề giỏi làm hạt nhân để phát triển làng nghề. Sản phẩm làm ra mang tính tiêu biểu độc đáo, tinh xảo, nổi tiếng và đậm nét văn hoá. Giá trị sản xuất và thu nhập từ tiểu thủ công nghiệp (TTCN) ở làng chiếm tỷ lệ 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập của làng trong năm. Quan niệm này tương đối đầy đủ, chúng được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời, được truyền từ đời này sang đời khác, sản xuất tập trung, có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề, sản phẩm mang tính tiêu biểu độc đáo và sáng tạo [68].
Từ một số quan điểm trên cho thấy thuật ngữ làng nghề bao gồm hai yếu tố: Làng là một tổ chức ở nông thôn, là sản phẩm tự nhiên phát sinh từ quá trình định cư và cộng cư của con người, ở đó họ sống, làm việc, quan hệ, vui chơi, thể hiện mối ứng xử văn hoá với thiên nhiên, xã hội và bản thân họ. Về cơ bản cơ cấu làng được biểu hiện dưới các hình thức: - Tổ chức theo khu đất cư trú. Theo hình thức này làng được chia thành nhiều xóm. Các xóm thường cách nhau.
Mỗi xóm sinh hoạt riêng. Xóm phân thành nhiều ngõ. Mỗi ngõ bao gồm nhiều nhà. - Tổ chức theo huyết thống dòng họ.
Dòng họ có vị trí và vai trò quan trọng trong làng. - Tổ chức theo nghề nghiệp, sở thích và sự tự nguyện như phe, hội, phường. - Tổ chức theo cơ cấu hành chính. Làng có khi gọi là xã, có khi gọi là thôn.
- Tổ chức làng theo lớp tuổi. Nghề trước tiên được hiểu là nghề thủ công, cụ thể như nghề dệt vải, nghề đúc đồng, nghề khảm trai, nghề gốm sứ… Lúc đầu nghề chỉ làm phụ trong các gia 16 đình ở nông thôn, chủ yếu là lúc nông nhàn. Nhưng dần dần số người làm nghề thủ công càng nhiều, tách rời khỏi nông nghiệp và họ sinh sống đúng bằng thu nhập của nghề đó ngay tại làng quê. Ngày nay, ngoài nghề thủ công trên, các hoạt động cung ứng dịch vụ ở nông thôn cũng được xếp vào nghề và được gọi là ngành nghề phi nông nghiệp.
Ngành nghề phi nông nghiệp được mở rộng bao gồm: các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp như công nghiệp, TTCN, các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống…Ngành nghề phi nông nghiệp còn được gọi là ngành nghề nông thôn. Như vậy, có thể quan niệm rằng, làng nghề là một cụm dân cư như làng, thôn, ấp, bản, phun, sóc… (gọi chung là làng) có sản xuất kinh doanh ngành nghề nông thôn mà số hộ làm nghề và thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao. Đặc điểm về làng nghề Thứ nhất, làng nghề tồn tại ở nông thôn gắn bó mật thiết với sản xuất nông nghiệp. Các làng nghề xuất hiện và tồn tại trong các làng xã ở nông thôn, ban đầu người lao động ở nông thôn do nhu cầu việc làm và thu nhập đã làm nghề thủ công bên cạnh làm ruộng (nghề chính là làm ruộng, nghề thủ công là nghề phụ).
Nghề thủ công lúc đó chỉ là tự sản xuất, tự lo những hàng tiêu dùng cho sản xuất nông nghiệp và cho đời sống gia đình. Về sau, xuất hiện những hộ chuyên làm nghề tiểu thủ công nghiệp, nhưng sản phẩm của họ vẫn chỉ phục vụ trực tiếp cho SXNN và nhu cầu tiêu dùng của người nông dân trong làng xã mình và ở các làng xã lân cận. Mặt khác, các hộ chuyên làm nghề TTCN thì đại bộ phận không thoát ly khỏi sản xuất nông nghiệp, vẫn giữ đất nông nghiệp để sản xuất. Như vậy, các nghề thủ công tách dần khỏi nông nghiệp nhưng không rời khỏi nông thôn, người thợ thủ công đồng thời là người nông dân, SXKD tiểu thủ công nghiệp đan xen, gắn bó với sản xuất nông nghiệp trong các làng nghề.
Thứ hai, sản xuất trong các làng nghề (đặc biệt là làng nghề thủ công truyền thống) chủ yếu bằng phương pháp thủ công, công nghệ thô sơ, lạc hậu. Công cụ lao động trong các làng nghề thường mang tính đơn chiếc, sản phẩm làm ra dựa trên bàn tay khéo léo của người thợ thủ công. Ngoài một số 17 công đoạn sản xuất bằng phương pháp cơ khí, nhìn chung công nghệ sản xuất trong các làng nghề thủ công chủ yếu bằng đôi bàn tay của người thợ, CCLĐ trong các làng nghề đa số là công cụ thô sơ, lạc hậu. Hiện nay, trong công nghệ sản xuất ở các làng nghề đã có sự đan xen, kết hợp giữa yếu tố truyền thống và hiện đại trên cơ sở tận dụng tiềm năng và lợi thế lao động ở mỗi địa phương kết hợp tay nghề cao với công cụ cơ giới hoá, hiện đại hoá, song mới chỉ xuất hiện ở một số ít nghề trong các làng nghề.
Thứ ba, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề trước đây chủ yếu là theo qui mô hộ gia đình, ngày nay đã đa dạng các loại hình tổ chức sản xuất. Thời kỳ mới hình thành, các làng nghề ở nông thôn đã thực hiện dưới hình thức tổ chức sản xuất hộ gia đình, chủ yếu là huyết thống. Với hầu hết các thành viên trong gia đình, đều được huy động vào các công việc khác nhau của quá trình SXKD, phụ thuộc vào khả năng kỹ thuật của từng người, vào giới tính hay lứa tuổi. Người chủ gia đình thường là thợ cả thường là các nghệ nhân, trực tiếp quản lý toàn bộ khâu kỹ thuật và tính toán kinh doanh.
Mô hình này hạn chế rất nhiều đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh. Mỗi gia đình không đủ nguồn lực để nhận được các hợp đồng lớn, không thể mạnh dạn đổi mới công nghệ sản xuất, cải tiến sản phẩm, tiết kiệm chi phí hay không đủ khả năng để định hướng vạch ra kế hoạch chiến lược kinh doanh. Ngày nay, ở các làng nghề các DNTN, công ty TNHH, công ty cổ phần được thành lập phát triển từ một hoặc một số gia đình đã hình thành và phát triển mạnh ở một số làng nghề. Tuy hình thức này không chiếm tỷ trọng lớn nhưng đóng vai trò trung tâm liên kết mà các hộ gia đình là các vệ tinh, thực hiện các hợp đồng đặt hàng với các hộ gia đình, giải quyết đầu ra, đầu vào, nơi sản xuất của các làng nghề với các thị trường tiêu thụ khác nhau.
Thứ tư, lao động trong các làng nghề vẫn phổ biến là lao động thủ công, phương pháp dạy nghề chủ yếu thực hiện theo phương thức truyền nghề. Lao động trong các làng nghề chủ yếu nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo. Hiện nay, lao động của các làng nghề không chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình, 18 dòng họ trong làng mà việc thuê mướn lao động đã phổ biến, hình thành thị trường lao động. Kinh nghiệm trong các làng nghề, đặc biệt trực tiếp sản xuất những mặt hàng độc đáo như: chạm khảm vàng bạc, chạm khảm gỗ, làm đồ sơn mài, làm tranh dân gian, làm đồ gốm mỹ nghệ… không thể sản xuất hàng loạt bằng máy móc được, do đó chủ yếu là lao động thủ công nhờ vào kỹ thuật khéo léo tinh xảo của người thợ.
Khi KH&CN phát triển, một số yếu tố công nghệ hiện đại đã được sử dụng vào những khâu, những công đoạn trong sản xuất, giảm bớt lực lượng lao động thủ công đơn giản. Đa số các công đoạn sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công với một số sản phẩm. Hiện nay, nhiều cơ sở quốc doanh, HTX làm các nghề truyền thống đã tổ chức các lớp dạy nghề tập trung làm cho các bí quyết nghề nghiệp không còn như trước.