CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Phân tích và đánh giá một số công trình nghiên cứu trên thế giới Hợp đồng EPCI là một hình thức của hợp đồng EPC được áp dụng cho các dự án phát triển khai thác mỏ dầu khí. Các đề tài liên quan đến EPCI chưa được nghiên cứu nhiều trên thế giới bởi do tính chất đặc thù của ngành công nghiệp dầu khí đó là tính bảo mật, cạnh tranh giữa các công ty dầu khí. Tính chất đặc thù của ngành công nghiệp dầu khí khi nghiên cứu về EPCI là các nhà nghiên cứu phải có kinh nghiệm khinh qua dự án, trực tiếp chỉ đạo dự án và phải ở nhiều khâu khác nhau của dự án như thiết kế, mua sắm, chế tạo và lắp đặt.
Hiện nay các nghiên cứu trên thế giới tập trung nhiều trong các tài liệu của hiệp hội kỹ sư dầu khí SPE (Society of petroleum Engineers) và trong các quy trình quản lý dự án của các công ty dầu khí trên thế giới như BP, Exxon Mobil, Chevron. Phân tích và đánh giá các nghiên cứu trong thực hiện hợp đồng thiết kế, mua sắm, chế tạo và lắp đặt (EPCI) dự án phát triển khai thác mỏ dầu khí A. Roldi (2011) [44] đã chỉ ra việc áp dụng hình thức quản trị “Fast track” để đẩy nhanh tiến độ thực hiện hợp đồng EPCI đối với một dự án cụ thể ở khu vực trung Đông. Với kinh nghiệm của Tổng thầu Saipem về cách thực hiện dự án, đối phó với các rủi ro và quản trị rủi ro trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng EPCI, đặc biệt là khi tham gia các hợp đồng EPCI có đấu thầu quốc tế với tính cạnh tranh cao và phải đảm bảo uy tín trên thị trường thế giới.
Nghiên cứu đã chỉ ra các điều kiện khó khăn thách thức khi thực hiện hợp đồng EPCI bao gồm: tiến độ ngắn với số lượng công việc nhiều, rủi ro khi triển khai công việc tại vùng có nhiều tàu bè đang thực hiện công việc (SIMOPS), khó khăn về giao diện như đa văn hóa, ngôn ngữ…) khó khăn trong việc kết nối với các thiết bị đang khai thác ngoài mỏ, rủi ro về địa chất, khó khăn trong việc quản lý nhà thầu phụ… Các yếu tố chiến lược để thực hiện thành công hợp đồng EPCI bao gồm: 1. Các chức năng hoat động theo nhóm phải quy định phân công rõ công việc và trách nhiệm. Các vật tư thiết bị quan trọng LLI cần phải mua sắm càng sớm càng tốt. Triển khai sớm nhóm dự án để nghiên cứu tài liệu, nhóm lắp đặt phải làm việc gắn bó chặt chẽ với chủ đầu tư.
Xây dựng các nhóm thiết kế có nhiều kinh nghiệm đặc biệt các nhóm quan trọng như đường ống (Pipeline), công nghệ và hệ thống ngầm dưới biển (Subsea). Nhóm thiết kế phải sẵn sàng trợ giúp ở bất cứ giai đoạn nào của dự án từ mua sắm, chế tạo… 6. Tổ chức dự án và đưa ra các quy trình quản lý dự án một cách chặt chẽ khoa học., & Van Der Linden, C. (2004) [34] các nghiên cứu của các tác giả đã nêu lên thể hiện sự phức tạp trong quá trình triển khai hợp đồng EPCI khi thực hiện dự án TLP (Giàn khai thác định hướng) với công nghệ phức tạp, mực nước sâu hơn 300m.
Những bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện dự án trở nên vô cùng quan trọng khi triển khai dự án EPCI: a) Tổng thầu phải điều hành nhóm dự án linh hoạt trong việc xử lý các thay đổi liên quan đến điều kiện thời tiết, hoạt động lắp đặt, triển khai thiết bị,. nhưng tuyệt đối không được thỏa hiệp về điều kiện chất lượng, để tăng chi phí hoặc ảnh hưởng đến ngày có dòng sản phẩm đầu tiên (First production date). b) Nhóm dự án cần phải phối hợp chặt chẽ, tận dụng thời gian dự phòng để vận chuyển thiết bị. Cho phép tuân thủ yêu cầu chất lượng dự án nhưng không cho phép chấp nhận các thiết bị dưới tiêu chuẩn do sức ép tiến độ.
c) Sự kiểm tra giám sát là chìa khóa để đảm bảo chất lượng. d) Đối với các giàn có hệ thống đường ống công nghệ kết nối phức tạp dưới biển, cần phải chú trọng việc thiết kế các đường ống kết nối từ giàn xuống biển trước (Riser) để tiết kiệm chi phí và tiến độ. (2013) cho rằng triển khai hợp đồng EPCI sẽ đối mặt với sự phức tạp về công nghệ và sự phức tạp về quy mô tổ chức. Với giai đoạn thiết kế: phải dựa trên điều kiện vận hành phức tạp của công trình, tuân thủ các điều kiện tiêu chuẩn thiết kế như API, ASTM, DNV,… thiếu thông tin đầu vào, thay đổi thiết kế, chủ đầu tư chậm phê duyệt tài liệu thiết kế,.
Trong giai đoạn mua sắm: khó khăn trong sự phối hợp giữa các nhóm dự án, kinh nghiệm nhà cung cấp, quản lý nhà thầu phụ, kế hoạch giám sát chất lượng. Trong giai đoạn chế tạo và lắp đặt Tổng thầu phải đối mặt với sức ép tiến độ, điều kiện an toàn, khó khăn trong việc kết nối các hệ thống công nghệ. Phân tích và đánh giá các nghiên cứu về rủi ro và quản trị rủi ro của Tổng thầu trong thực hiện hợp đồng thiết kế, mua sắm, chế tạo và lắp đặt (EPCI) dự án phát triển khai thác mỏ dầu khí 1. Tổng quan các nghiên cứu về rủi ro Amos and Dents (1997) đã chỉ ra các loại rủi ro khi triển khai dự án là rủi ro về thương mại, rủi ro về hợp đồng và rủi ro khi đưa vào vận hành.
Santoso, Ogunlana and Minato (2003) đã tìm ra rằng quản lý và thiết kế là nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất đến việc thực hiện dự án.A Mian (2002) “Project Economics and Decision Analysis” cung cấp đầy đủ kiến thức cần thiết trong việc đánh giá đầu tư, việc sử dụng nguồn vốn và phân tích đưa ra quyết định. Về phân tích rủi ro, nghiên cứu sẽ giúp cho người đọc các yếu tố sau: Tiếp cận một cách dễ dàng các rủi ro bên ngoài trong quá trình đầu tư để từ đó tìm hiểu về phân tích thống kê; Ứng dụng về việc thống kê các biến thay đổi; Tạo và sử dụng cây quyết định để mô tả và hạn chế rủi ro; Xác định được khả năng rủi ro có thể xảy ra bằng cách sử dụng các hàm phân phối. (2002) đã cung cấp các kinh nghiệm qúy báu, những khó khăn, rủi ro phải đối mặt khi triển khai dự án phát triển mỏ Girassol ngoài khơi Angola. Đây là dự án phát triển mỏ nước sâu lớn nhất từng được đưa vào vận hành.
Tiến trình dự án trải qua 3 mốc quan trọng: Phát hiện (tháng 4 năm 1996), đạt được thỏa thuận (tháng 7 năm 1998) và dầu đầu tiên (tháng 12 năm 2001). Dự án nước sâu khổng lồ với nhiều đặc điểm sau: - Tầng sản phẩm nằm ở độ sâu 1,400m, diện tích mỏ (10km x 14km), trữ lượng ước tính tại chỗ là 1,550mmbbls với trữ lượng thu hồi đặt tại 725mmbbls. Chất lượng dầu là 32° API gần đặc tính với dầu Brent. - Đề án phát triển Girassol trên cơ sở 39 giếng ngầm (subsea) bao gồm 23 giếng khai thác 14 bơm ép và 2 giếng bơm ép khí.
- Phát triển dự án trải qua 2 giai đoạn với tổng số vốn đầu tư 2. Các mục tiêu đặt ra của dự án: - Phải đáp ứng được chất lượng kỹ thuật, một quy trình kiểm tra được đặt ra, đảm bảo quy trình. - Phải được kiểm tra ở cả vùng nước nông và sâu. - Giám sát chặt chẽ ngân sách triển khai dự án và các chi phí còn lại cuối cùng.
10 - Đạt được dòng dầu đầu tiên càng sớm càng tốt. Vị trí mỏ và phương án phát triển (Nguồn SPE OTC 14166) Những rủi ro mà dự án phải đối mặt: - Chất lượng của thiết bị nước sâu (vì các thiết bị phải vận hành trong điều kiện nước sâu 1,400m) với điều kiện khắt khe về bọc cách nhiệt. - Chế tạo FPSO và giao diện giữa FPSO và khối thượng tầng. - Kết nối dưới biển rất khó khăn, có khoảng 150 kết nối giữa các đoạn ống công nghệ.
- Thiếu kinh nghiệm trong chế tạo tháp kết nối (riser tower), đây là dự án đầu tiên ở Angola. Cheng Siew Goh and Hamzah Abdul-Rahman (2012) bằng phương pháp phỏng vấn, đặt câu hỏi, các tác giả đã nhận dạng được các rủi ro trong các dự án xây dựng công nghiệp tại Malaysia bao gồm 6 loại rủi ro sau: rủi ro về tài chính (Rc33, Rp16), rủi ro về tiến độ (R3), rủi ro về vật lý (Ri4), rủi ro về con người (Rc8), rủi ro về thiết kế và kỹ thuật (R1), rủi ro về hợp đồng (Rp18), rủi ro về chính trị luật pháp (R7), rủi ro về an toàn (Rc23). Trong đó rủi ro về tài chính, rủi ro về tiến độ là những rủi ro thường xuyên xảy ra và ảnh hưởng nhiều đến dự án, nên việc nhận dạng chúng trở thành vô cùng quan trọng gắn liền với các dự án xây dựng công nghiệp ở Malaysia. Bensahraoui, Jamaal Abdalla Al Nahdi, Dennis E.
King, Nancy Macwan, Risk Management Register in Projects & Operations, SPE 162500 (11/2012). Trên cơ sở thống kê thông qua các cuộc hội thảo để nhận dạng các rủi ro trong lĩnh vực dầu khí. Các rủi ro được chia thành các nhóm rủi ro: Nhóm tài chính, nhóm pháp luật, nhóm giao diện, nhóm môi trường, nhóm hợp đồng, nhóm an toàn sức khỏe, nhóm nhân lực, nhóm trách nhiệm hợp đồng, nhóm chính trị, nhóm nhà thầu - nhà cung cấp (Rp1÷Rp23), nhóm thiết kế (Re1÷Re6), nhóm chất lượng, điều kiện công trường thi công, rủi ro trong quá trình vận hành chạy thử (Rp10)… Sau đó các rủi ro được đánh giá phân loại ở 3 mức cao, trung bình và thấp. Trong đó mức trung bình và mức thấp là có thể chấp nhận được còn mức cao cần phải có biện pháp giảm trừ.
Adigun, Risk Management as an Essential Tool for Successful Project Execution in the Upstream Oil Industry, (2015) SPE-171749-MS. Nhóm tác giả đã đưa ra 3 nhóm rủi ro trong quá trình thực hiện dự án phát triển khai thác mỏ dầu khí: Rủi ro kinh tế, rủi ro xã hội, rủi ro môi trường. Trong mỗi nhóm lại có các rủi ro nhỏ. Các rủi ro được nhận dạng và đưa ra giải pháp giảm trừ.
Rủi ro trong dự án thăm dò khai thác của nhóm T.Akineremi - Rủi ro kinh tế đầu tư bao gồm: Rủi ro về chi phí, thuế và biến động tỷ giá (Rp16), giá dầu thay đổi (Rp12), khó khăn do điều kiện địa chất, công nghệ mỏ, mức nước biển (Re1, Rc4), các dự báo không chính xác (Rc20), rủi ro về tiến độ (R3), rủi ro về bảo hiểm (Rc25).