CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG 1. TỔNG QUAN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG 1. Khái niệm chuỗi cung ứng Trong môi trường kinh doanh không ngừng vận động biến đổi hiện nay, để đảm bảo chỗ đứng trên thị trường và có được lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ, rõ ràng các doanh nghiệp không thể chỉ tập trung vào các hoạt động của riêng công ty mình mà phải đảm bảo mọi hoạt động từ cung ứng tới tiêu thụ đều trong tầm kiểm soát của doanh nghiệp, bằng cách tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh của nhà cung cấp cho tới khi sản phẩm tới tay khách hàng. Doanh nghiệp buộc phải quan tâm sâu sắc tới dòng dịch chuyển của nguyên vật liệu, cách thức thiết kế, đóng gói, phương thức vận chuyển và bảo quản, dịch vụ chăm sóc khách hàng và những mong đợi thực sự từ phía người tiêu dùng cuối cùng.
Để thực hiện được những hoạt động đó, doanh nghiệp phải xây dựng chuỗi cung ứng của riêng mình, thiết lập mối quan hệ hai chiều khăng khít giữa doanh nghiệp - nhà cung cấp, doanh nghiệp - khách hàng, thậm chí là quan hệ với khách hàng của khách hàng. Theo sự vận động của kinh tế toàn cầu, chuỗi cung ứng không ngừng phát triển cả về thực tiễn lẫn trên phương diện lý thuyết. Định nghĩa đúng về chuỗi cung ứng sẽ cho ta một cái nhìn tổng quan về các hoạt động quản trị chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp. Dưới đây là một số khái niệm về chuỗi cung ứng nổi bật: “Chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường” (“Fundaments of Logistics Management” của Lambert, Stock và Elleam, 1998) “Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng” (“Supply chain management: strategy, planning and operation” của Chopra Sunil và Peter Meindl, 2001) “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành 8 bán thành phẩm và thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng” (“An introduction to supply chain management” Ganesham, Ran and Terry P.Harrison, 1995) Tóm lại, có thể nói chuỗi cung ứng là mạng lưới liên kết các hoạt động từ sản xuất, cung cấp, cho đến vận chuyển, lưu kho, nhà bán lẻ,. Nó bao gồm tất cả các hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Để dễ dàng hình dung, ta có thể xem xét một ví dụ về chuỗi cung ứng sản phẩm sữa. Trên thị trường hiện nay, chúng ta không còn xa lạ với những sản phẩm sữa đến từ các thương hiệu nổi tiếng như Vinamilk, TH true milk, Dutch lady, Mộc Châu… Các sản phẩm đó đã phải trải qua các công đoạn như thế nào để đến tay người tiêu dùng? Việc đầu tiên các hãng sữa cần cân nhắc là tìm nguồn nguyên liệu sữa phù hợp.
Nguyên liệu từ đâu ra? Thông thường, nguyên liệu dùng sản xuất sữa đến từ 2 nguồn chính: Từ các nông trại chuyên nuôi bò sữa Từ việc nhập khẩu ở các quốc gia khác Nguyên liệu ấy sẽ được thu mua, đưa vào nhà máy sản xuất với mức kinh phí và chất lượng phù hợp với dự toán ban đầu từ đơn vị. Các khâu trong sản xuất tại nhà máy sẽ hình thành nên sản phẩm sữa. Tuy nhiên, để sản phẩm được người dùng biết đến thì cần tới lực lượng marketing – quảng bá thương hiệu và quảng bá sản phẩm. Song song đó, bộ phận này cần kết hợp chặt chẽ với bộ phận sản xuất, lưu kho, bảo quản, hoạt động vận chuyển và phân phối đại lý để đảm bảo nhu cầu khách hàng được đáp ứng đúng lúc, đúng thời điểm, tạo dựng lòng tin yêu, gắn bó của khách hàng đối với thương hiệu.
Đó chính là những gì mà Vinamilk cũng như các hãng sữa lớn khác đã và đang phải thực hiện trong quản lý, vận hành chuỗi cung ứng của họ. Chuỗi cung ứng này được minh họa một cách đơn giản tại hình 1.1 như sau: 9 Hộ nông dân, trang trại nuôi bò Công ty, Trung tâm thu Nhà máy sản Nhà phân Đại lý, Người mua sữa tươi xuất phối cửa hàng tiêu dùng Nguyên liệu sữa nhập khẩu : Dòng sản phẩm : Dòng thông tin : Dòng tài chính Hình 1.1 - Mô hình chuỗi cung ứng sữa 1. Đối tượng tham gia chuỗi cung ứng Một chuỗi cung ứng đơn giản bao gồm: Nhà cung cấp doanh nghiệp và khách hàng của doanh nghiệp Nhà cung Nhà sản Khách hàng cấp xuất Hình 1.2 - Mô hình cấu trúc chuỗi cung ứng đơn giản (Nguồn: Michael H. Hugos (2011), “Essentials of Supply chain Management, Third Edition”) Ngoài ba thành phần trên, trong chuỗi cung ứng mở rộng còn có thêm ba đối tượng khác, đó là nhà cung cấp của các nhà cung cấp (hay còn gọi là nhà cung cấp đầu tiên), khách hàng của các khách hàng (khách hàng cuối cùng) và các công ty đóng vai trò như các nhà cung cấp dịch vụ như logistics, tài chính, marketing và công nghệ thông tin, … 10 Nhà cung Nhà cung Nhà sản Khách Khách hàng cấp đầu tiên cấp xuất hàng cuối cùng Nhà cung cấp dịch vụ Hình 1.3 - Mô hình cấu trúc chuỗi cung ứng mở rộng (Nguồn: Michael H.
Hugos (2011), “Essentials of Supply chain Management, Third Edition”) Trong bất kỳ chuỗi cung ứng nào đều có sự kết hợp chặt chẽ của các đối tượng mà mỗi đối tượng đó đóng một vai trò, chức năng khác nhau trong chuỗi cung ứng. Các đối tượng đó bao gồm: Nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ, khách hàng cá nhân hoặc tổ chức, khách hàng cuối cùng, hỗ trợ các công ty này là các công ty được biết đến với tên: nhà cung cấp dịch vụ. Nhà sản xuất Chịu trách nhiệm sản xuất ra sản phẩm, bao gồm các doanh nghiệp khai thác, sản xuất nguyên vật liệu thô; đánh bắt, nuôi trồng sản phẩm nông nghiệp, thủy, hải sản và doanh nghiệp sản xuất thành phẩm. Sản phẩm có thể hữu hình như đồ gia dụng, thực phẩm, đồ uống.
cũng có thể là các sản phẩm vô hình như âm nhạc, trò chơi điện tử, phần mềm, thiết kế… hoặc các dịch vụ như vận chuyển, dọn vệ sinh, cắt tỉa cây, phẫu thuật, giảng dạy… 1. Nhà phân phối Nhà phân phối là những công ty dự trữ hàng hóa với số lượng lớn từ các nhà cung ứng và phân phối sản phẩm cũng với khối lượng lớn tới khách hàng là doanh nghiệp kinh doanh. Thông thường, nhà phân phối có quyền sở hữu đối với sản phẩm mà họ mua từ các nhà sản xuất và bán lại cho người tiêu dùng. Ngoài việc quảng bá sản phẩm, thúc đẩy doanh số bán hàng, nhà phân phối còn chịu trách nhiệm quản lý hàng tồn kho, vận hành kho và vận chuyển sản phẩm cũng như hỗ trợ khách hàng và dịch vụ sau bán.
Tuy nhiên, nhà phân phối cũng có thể là tổ chức môi giới sản phẩm mà không sở hữu sản phẩm đó. Họ chủ yếu chỉ thực hiện các chức năng quảng bá sản phẩm và bán hàng. Trong cả hai trường hợp, nhà phân phân phối đều thực hiện chức 11 năng bán hàng và theo dõi nhu cầu khách hàng, từ đó nhà phân phối có thể cho nhà sản xuất biết về sự biến động của nhu cầu. Đối với khách hàng, nhà phân phối thực hiện chức năng “Thời gian và địa điểm”, họ cung cấp sản phẩm đúng lúc và đến đúng nơi mà khách hàng cần.
Nhà bán lẻ Nhà bán lẻ dự trữ hàng hóa và bán lại với số lượng nhỏ lẻ. Đây là người nắm rõ nhu cầu cũng như sự ưa thích của khách hàng đối với các loại hàng hóa. Họ quảng cáo sản phẩm tới khách hàng và thường kết hợp chiến thuật về giá cả, lựa chọn sản phẩm và tính tiện dụng để thu hút khách hàng. Khách hàng Là bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào mua và sử dụng sản phẩm.
Khách hàng có thể mua sản phẩm về để tiếp tục bán sản phẩm đó cho các khách hàng khác hoặc mua để phục vụ cho mục đích tiêu dùng của mình. Nhà cung cấp dịch vụ Là tổ chức cung cấp dịch vụ cho các nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và khách hàng. Nhà cung cấp dịch vụ có chuyên môn và kỹ năng đặc biệt ở một hoạt động riêng biệt trong chuỗi cung ứng vì vậy họ có thể thực hiện hoạt động này hiệu quả hơn và cung cấp dịch vụ ở một mức giá tốt hơn so với việc các nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ hay khách hàng tự mình thực hiện. Một số nhà cung cấp dịch vụ phổ biến trong các chuỗi cung ứng là nhà cung ứng dịch vụ vận chuyển và nhà xưởng.
Những công ty vận tải và xưởng tư này được biết đến là các nhà cung cấp dịch vụ logistics. Ngoài ra còn có các dịch vụ tài chính như: cho vay, phân tích tín dụng do các ngân hàng, công ty tài chính cung cấp. Một số nhà cung cấp dịch vụ nghiên cứu thị trường và quảng cáo trong khi các nhà cung cấp khác thiết kế sản phẩm, dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ pháp lý và tư vấn quản lý.Tất cả các nhà cung cấp dịch vụ này được tích hợp với mức độ khác nhau hỗ trợ hoạt động liên tục của nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và khách hàng trong chuỗi cung ứng. Tóm lại, chuỗi cung ứng bao gồm nhiều đối tượng tham gia, nó được chia thành một hay nhiều loại.
Điều cần thiết của chuỗi cung ứng là duy trì tính bền vững theo thời gian, những điều cần thay đổi chính là sự kết hợp và vai trò của các đối tượng tham gia. Phân loại chuỗi cung ứng Có nhiều tiêu chí để có thể phân loại chuỗi cung ứng nhưng có hai tiêu chí được coi là cơ bản và tiêu biểu nhất. Thứ nhất là dựa vào cách thức đưa sản phẩm vào thị trường. Thứ hai là dựa vào cấu trúc của chuỗi cung ứng.
Dựa vào cách thức đưa sản phẩm vào thị trường Căn cứ vào cách thức đưa sản phẩm vào thị trường, chuỗi cung ứng được chia thành hai loại cơ bản là chuỗi cung ứng kéo và chuỗi cung ứng đẩy. Tuy nhiên, thực tế trong những năm gần đây để hạn chế những nhược điểm cũng như tận dụng tối đa những ưu điểm của cả hai mô hình trên, doanh nghiệp đã rất linh hoạt trong việc phối hợp cả hai mô hình trên tạo thành chuỗi cung ứng kéo - đẩy.