Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP KHAI THÁC TÀI NGUYÊN 1. Tài nguyên và doanh nghiệp khai thác tài nguyên 1. Khái niệm tài nguyên Theo nghĩa rộng, tài nguyên môi trường bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng, thông tin có trên trái đất và trong vũ trụ bao la mà con người có thể sử dụng để phục vụ cho đời sống và sự phát triển của mình. Trong mỗi bối cảnh xã hội nào thì hoạt động kinh tế của con người cũng là quá trình sử dụng năng lượng để biến đổi vật chất từ dạng này sang dạng khác có ích cho cuộc sống.
Do vậy, vật chất - mà tài nguyên thiên nhiên là một dạng cụ thể của nó, được con người biến đổi mà không làm biến mất nó trong quá trình hoạt động. Vật chất đề cập ở đây cần phải hiểu cả 2 dạng: hữu hình và vô hình. Có thể nói rằng, tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức, thông tin được con người sử dụng để tạo ra của cải vật chất hay tạo ra giá trị sử dụng mới. Xã hội loài người càng phát triển thì số loại hình tài nguyên và số lượng mỗi loại tài nguyên được con người sử dụng, khai thác ngày càng gia tăng.
Phân loại tài nguyên Tài nguyên có thể chia làm hai loại lớn: tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên xã hội. Tài nguyên xã hội là một dạng tài nguyên đặc biệt của trái đất, thể hiện bởi sức lao động chân tay và trí óc, khả năng tổ chức và chế độ xã hội, tập quán, tín ngưỡng của các cộng đồng người. Trong Khoa học môi trường, tài nguyên thiên nhiên được chia thành ba loại: - Tài nguyên tái tạo: Là tài nguyên dựa vào nguồn năng lượng được cung cấp hầu như liên tục và vô tận từ vũ trụ vào trái đất, dựa vào trật tự tự nhiên, nguồn thông tin vật lý và sinh học đã hình thành và tiếp tục tồn tại, phát triển và chỉ mất đi khi không còn nguồn năng lượng và thông tin nói trên. Jorgensen (1981) Tài nguyên tái tạo là tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục nếu được quản lý, sử dụng một cách hợp lý và khôn ngoan.
Tài nguyên thiên nhiên 4 tái tạo được có thể kể ra như: Tài nguyên sinh học, tài nguyên năng lượng mặt trời, nước, gió, đất canh tác. - Tài nguyên không tái tạo: Tồn tại một cách hữu hạn và sẽ mất đi hoặc hoàn toàn bị biến đổi không còn giữ được tính chất ban đầu sau quá trình sử dụng. Các khoáng sản, nhiên liệu hoá thạch (than đá, dầu mỏ, khí đốt.), các thông tin di truyền bị mai một không giữ lại được là những nguồn tài nguyên thiên nhiên không tái tạo được. - Tài nguyên vĩnh cửu: loại tài nguyên có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến năng lượng mặt trời.
Có thể xem năng lượng mặt trời là nguồn tài nguyên vô tận, chúng ta có thể phân ra: + Năng lượng trực tiếp: là nguồn năng lượng chiếu sáng trực tiếp, giá trị định lượng có thể tính được + Năng lượng gián tiếp: là những dạng năng lượng gián tiếp của bức xạ mặt trời bao gồm: gió, sóng biển, thuỷ triều,. Doanh nghiệp khai thác tài nguyên Doanh nghiệp khai thác tài nguyên là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên bao gồm: Công ty Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, Hợp tác xã, Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay Bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh, các tổ chức, không phân biệt ngành nghề, quy mô, hình thức hoạt động, có khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quy định của pháp luật Việt Nam là doanh nghiệp khai thác tài nguyên. Một số vấn đề chung về thuế và thuế tài nguyên 1. Khái niệm về thuế Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và pháp luật quy định.
Khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế để phục vụ cho mục tiêu công cộng. Nguồn thu về thuế không được sử dụng cho mục tiêu cá nhân. Bản chất của thuế Thuế là một phạm trù kinh tế đồng thời cũng là một phạm trù lịch sử, thuế luôn luôn gắn chặt với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. 5 Thuế là một công cụ tài chính của Nhà nước, được sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.
Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong, vốn có của thuế. Những đặc điểm đó là: Thuế luôn luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước. Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến Pháp; thuế là một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư bắt buộc phải nộp cho Nhà nước; thuế là một hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính chất hoàn trả trực tiếp. Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Nhà nước thu thuế cũng là nhằm tạo ra một nguồn lực tập trung để chi phát triển cơ sở hạ tầng, chi phúc lợi công cộng, chi văn hóa, giáo dục y tế, xã hội, an ninh, quốc phòng… Hiến pháp nước ta năm 2013, Điều 80 đã ghi rõ: “Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo qui định pháp luật”. Tuy nhiên, Nhà nước cần phải thu đúng thu đủ để đảm bảo chi cho các mục tiêu trên, còn người nộp thuế thường muốn nộp thuế càng ít càng tốt. Do đó khi ý thức tự giác chấp hành pháp luật thuế của người dân chưa cao thì tình trạng trốn thuế, nợ thuế là điều không thể tránh khỏi, dẫn đến công tác thuế luôn gặp những khó khăn nhất định. Chức năng của thuế - Chức năng huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước: Ngay từ lúc phát sinh, thuế luôn là một phương tiện động viên nguồn tài chính cho nhà nước.
Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN. Đây là chức năng cơ bản, là chức năng đầu tiên phản ánh nguyên nhân cho sự ra đời của thuế. Nhờ chức năng huy động nguồn lực tài chính mà quỹ tiền tệ tập trùn của Nhà nước được hình thành, qua đó đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của nhà nước. - Chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô: Mặc dù chức năng điều tiết kinh tế có cơ sửo nảy sinh từ chức năng huy động nguồn lực tài chính, nhưng chỉ được nhận thức và sử dụng từ những năm đầu thế kỷ XX khi vai trò điều tiết kinh tế của nhà nước được thực hiện.
Với chức năng này, thuế ghóp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rông lưu thông hàng hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và của nền kinh tế. Đồng thời cũng ghóp phần thực hiện công bằng xã hội giữua các thành phần kinh tế và các tầng lớp dân cư. Thuế tài nguyên 1.1 Khái niệm thuế tài nguyên Thuế tài nguyên là một khoản thu bắt buộc đối với người khai thác và sử dụng tài nguyên, không phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của người khai thác. Tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý.
Vì vậy, mọi tổ chức, cá nhân khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên đều phải nộp một khoản thuế vào NSNN, gọi là thuế tài nguyên. Tài nguyên thiên nhiên có loại tái tạo được có loại không tái tạo được. Thuế tài nguyên là loại thuế đánh vào tài nguyên thiên nhiên khai thác được. Như vậy, cơ sở xác định thuế tài nguyên là tài nguyên nguyên khai, nên khi tính thuế tài nguyên phải căn cứ vào tính chất, đặc điểm, điều kiện khai thác của từng loại tài nguyên.
Bản chất của thuế tài nguyên Xét về mặt bản chất, thuế tài nguyên là loại thuế gián thu, thu vào người tiêu dùng, vì thuế tài nguyên được tính trong giá thành sản phẩm tài nguyên, người khai thác chỉ là người nộp hộ cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, xét ở góc độ quan hệ sở hữu, thuế tài nguyên là khoản thu có tính chất tô nhượng. Các cơ sở khai thác và sử dụng tài nguyên phải trả cho Nhà nước một khoản tiền giống như việc trả tiền mua tài sản của chủ sở hữu. Thuế tài nguyên trong nhiều trường hợp mang tính chất của nhiều loại phí sử dụng, dùng để bù đắp các khoản chi phí có liên quan đến tài nguyên; phí quản lý, phí tái tạo, phí bảo vệ tài nguyên.
Thuế tài nguyên được tính trên sản lượng và giá trị thương phẩm của tài nguyên mà không phụ thuộc vào mục đích khai thác tài nguyên. Thuế tài nguyên gắn chặt với yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái. Vai trò của thuế tài nguyên. - Tạo nguồn thu quan trọng cho NSNN Một nền tài chính lành mạnh phải dựa vào nguồn thu nội bộ từ nền kinh tế quốc dân.
Một ngân sách lành mạnh trước hết phải dựa vào nguồn thu ổn định trong nước, trong đó thuế là nguồn thu chủ yếu trong hệ thống đòn bẩy của cơ chế mới. 7 Nhờ có khoản đóng góp này, bộ máy Nhà nước mới tồn tại và hoạt động được. Ngay từ buổi sơ khai, thuế đã được sử dụng với mục tiêu quan trọng là tập trung thu nhập vào tay Nhà nước. Lịch sử tồn tại và phát triển của thuế qua các thời kỳ và ở các nước cũng cho thấy tỷ trọng thu bằng thuế thường chiếm phần lớn trong tổng thu nhập của NSNN.
Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới, sau khi thực hiện cải cách hệ thống thuế, số thu bằng thuế, phí chiếm tới trên 90% tổng số thu NSNN. Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống thuế mới được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế. Thuế phải bao quát được hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh, các nguồn thu nhập của các doanh nghiệp và dân cư để đảm bảo yêu cầu huy động được nhiều vốn, thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao hơn trong giai đoạn hiện tại và phát triển lâu dài, góp phần kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, ổn định kinh tế xã hội. Thuế tài nguyên cơ cấu trong thuế nói chung, là khoản thu bắt buộc của Nhà nước đối với cá nhân hoặc pháp nhân khi phát sinh những hoạt động liên quan đến khai thác tài nguyên, cũng góp phần vào đó.
Thực tế nguồn thu từ thuế tài nguyên tăng cao qua các năm và ngày càng đóng vai trò quan trọng của mình trong tổng số thu NSNN.