Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN 1. Cơ sở lý luận về quản lý thuế tài nguyên 1. Khái niệm về quản lý thuế tài nguyên 1. Thuế tài nguyên Thuế tài nguyên là loại thuế gián thu, thu vào hoạt động khai thác tài nguyên của các tổ chức, cá nhân, nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng tài nguyên hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả góp phần bảo vệ tài nguyên đất nước, bảo đảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước để bảo vệ, tái tạo, tìm kiếm, thăm dò tài nguyên.
Quản lý thuế tài nguyên là việc nhà nước sử dụng các phương tiện, cách thức, biện pháp nhằm thực hiện việc thu thuế sao cho đạt hiệu quả, đúng mục tiêu, mục đích đề ra trong việc xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của đất nước trong từng thời kỳ. Chính sách thuế tài nguyên Để thực hiện được mức thu thuế tài nguyên theo mục tiêu đề ra người ta phải sử dụng công cụ để thực hiện đó chính là chính sách thuế tài nguyên. Chính sách thuế tài nguyên là hệ thống các biện pháp, cách thức của Nhà nước tác động vào việc sử dụng tài nguyên nhằm mục đích khai thác sử dụng mọi nguồn tài nguyên của đất nước một cách có hiệu quả và tiết kiệm, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Quản lý thuế tài nguyên là việc nhà nước sử dụng các phương tiện, cách thức, biện pháp nhằm thực hiện việc thu thuế sao cho đạt hiệu quả, đúng mục tiêu, mục đích đề ra trong việc xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.
Đặc điểm của quản lý thuế tài nguyên a. Đặc điểm của thuế tài nguyên Một là: Thuế tài nguyên là một khoản thu của NSNN đối với người khai thác tài nguyên thiên nhiên do Nhà nước quản lý. Cũng như các loại thuế khác, thuế tài nguyên là một khoản thu của NSNN, mặc dù không phải là loại thuế đem lại nguồn thu chủ yếu cho NSNN nhưng cũng đóng 6 góp một phần không nhỏ, tăng thêm nguồn thu cho Nhà nước. Khoản thu này đối với người khai thác tài nguyên thiên nhiên do Nhà nước quản lý.
Hai là: Thuế tài nguyên đánh trên sản lượng và giá trị thương phẩm của tài nguyên khai thác mà không phụ thuộc vào mục đích khai thác tài nguyên. Để tận thu thuế tài nguyên, Nhà nước đánh thuế dựa trên sản lượng và giá bán sản phẩm tài nguyên mà không phụ thuộc và mục đích khai thác tài nguyên. Ba là: Thuế tài nguyên được cấu thành trong giá bán tài nguyên mà người tiêu dùng tài nguyên hoặc sản phẩm được tạo ra từ tài nguyên thiên nhiên phải trả tiền thuế tài nguyên Thuế tài nguyên là loại thuế gián thu, Nhà nước thu tiền thuế từ người khai thác tài nguyên, nhưng thực chất người tiêu dùng mới là người phải trả tiền thuế đó. Người khai thác tài nguyên tính toán số thuế tài nguyên phải nộp trên mỗi đơn vị tài nguyên khai thác, cấu thành trong giá bán sản phẩm tài nguyên cho người tiêu dùng.
Vì lẽ đó, người tiêu dùng cuối cùng là người phải trả tiền thuế tài nguyên. Bốn là: Đối tượng nộp thuế tài nguyên là: Mọi tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên, không phụ thuộc mục đích sử dụng tài nguyên. Mọi tổ chức, cá nhân khai tác tài nguyên thiên nhiên, không phụ thuộc vào mục đích sử dụng tài nguyên, đều phải nộp thuế tài nguyên để đảm bảo sự nhất quán, công bằng và tận thu thuế tài nguyên đóng góp vào nguồn NSNN. Vai trò của Thuế tài nguyên - Tạo nguồn thu quan trọng cho NSNN: Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, được sử dụng để trang trải cho các hoạt động đầu vào cần thiết nhằm sản xuất các hàng hóa, dịch vụ công của Chính phủ, ngoài ra còn có một phần được dành để chi đầu tư phát triển kinh tế.
Thuế tài nguyên cơ cấu trong thuế nói chung cũng góp phần vào đó. Thực tế nguồn thu từ thuế tài nguyên tăng cao qua các năm và ngày càng đóng vai trò quan trọng của mình trong tổng số thu NSNN. - Thuế tài nguyên là một trong những công cụ tài chính, thể hiện vai trò sở hữu nhà nước đối với tài nguyên quốc gia và thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên của tổ chức, cá nhân. Nhà nước có thể dùng thuế tài nguyên như một công cụ kinh tế để điều tiết khối lượng tài nguyên khai thác của các tổ chức, cá nhân.
Số thuế tài nguyên mà doanh nghiệp phải nộp được 7 tính dựa vào căn cứ thuế suất, giá tính thuế và sản lượng tài nguyên khai thác. Như vậy, nếu một trong ba yếu tố này thay đổi sẽ làm thuế tài nguyên thay đổi. Để hạn chế khai thác một loại tài nguyên quý hiếm đang dần bị cạn kiệt, Nhà nước có nhiều giải pháp, một trong số đó là tăng thuế tài nguyên. Để tăng thuế tài nguyên, Nhà nước có thể tăng giá tính thuế hoặc thuế suất thuế tài nguyên.
Nội dung quản lý thuế tài nguyên 1. Quản lý thuế và quản lý thuế tài nguyên Quản lý thuế là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành. Vì vậy, để tiếp cận khái niệm quản lý thuế, trước hết, cần tiếp cận khái niệm quản lý. Quản lý là sự tác động có chủ đích, thường xuyên liên tục của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Quản lý thuế là quá trình tác động của cơ quan quản lý thuế đến người nộp thuế nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật thuế. Cơ quan thuế tổ chức thực hiện các chức năng quản lý thuế như tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, quản lý kê khai thuế, kế toán thuế, kiểm tra thuế, đôn đốc thu nộp và quản lý nợ thuế, cưỡng chế nợ thuế. Tuân thủ pháp luật của người nộp thuế bao gồm tuân thủ về đăng ký thuê, kê khai thuế, tính thuế, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ khác về thuế. Hoạt động quản lý thuế của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đều phải tuân thủ các nguyên tắc sau: - Tuân thủ pháp luật - Việc quản lý thuế phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế.
Quản lý thuế tài nguyên là một bộ phận của quản lý thuế. Do đó quản lý thuế tài nguyên cũng phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các chức năng và tuân thủ các nguyên tắc chung của quản lý thuế như nêu trên nhưng đồng thời cũng phải phù hợp với đặc tính riêng của sắc thuế này. Quản lý thuế tài nguyên phải xác định được nhóm tài nguyên thuộc đối tượng chịu thuế hay thuộc đối tượng không chịu thuế và quản lý được các căn cứ tính thuế bao gồm: Sản lượng khai thác, giá tính thuế, thuế suất áp dụng đối với từng loại tài nguyên nhằm xây dựng và thực thi chính sách thuế đảm bảo đơn giản, 8 minh bạch, dễ thực hiện, định hướng được hoạt động khai thác tài nguyên hiệu quả, tiết kiệm, tránh ô nhiễm môi trường, tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước. Công tác quản lý thuế tài nguyên Công tác quản lý thuế tài nguyên là nhiệm vụ quản lý được Nhà nước giao cho tổ chức, cá nhân nhằm tổ chức thực hiện quá trình quản lý thuế tài nguyên một cách hiệu quả, hướng tới mục tiêu tập trung, huy động đầy đủ kịp thời nguồn thu cho NSNN, đồng thời đảm bảo công bằng, minh bạch, phát huy tốt nhất vai trò của thuế tài nguyên và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người nộp thuế.
Nói đến công tác quản lý thuế tài nguyên là nói đến 4 yếu tố cụ thể như sau: Nội dung quản lý thuế tài nguyên, phương pháp quản lý thuế tài nguyên, quy trình quản lý thuế tài nguyên và tổ chức bộ máy thực hiện quá trình quản lý thuế tài nguyên. Nội dung công tác quản lý thuế tài nguyên a. Xác định nội dung và quy trình quản lý thuế tài nguyên Một là: Đăng ký thuế tài nguyên Đăng ký thuế tài nguyên là việc người nộp thuế thực hiện khai báo sự hiện diện của mình và nghĩa vụ phải nộp thuế tài nguyên với cơ quan quản lý thuế. Đối tượng đăng ký thuế tài nguyên là các tổ chức và cá nhân thuộc các thành phần kinh tế, không phân biệt ngành nghề, quy mô, hình thức hoạt động có khai thác tài nguyên thiên nhiên thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên theo quy định của pháp luật.
Khi đăng ký thuế tài nguyên, người nộp thuế tài nguyên kê khai những thông tin của mình theo mẫu quy định, nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế và được cấp một mã số thuế để thực hiện quyền và nghĩa vụ về thuế. Cơ quan quản lý thuế thiết lập đầu mối quản lý thông qua việc cấp mã số thuế cho người nộp thuế. Mã số thuế là một dãy số do cơ quan quản lý thuế cấp cho người nộp thuế theo quy định của Luật quản lý thuế. Mã số thuế để nhận biết, xác định từng người nộp thuế và được quản lý thống nhất trên phạm vi toàn quốc.
Người nộp thuế tài nguyên chỉ được cấp một mã số thuế duy nhất để sử dụng trong suốt quá trình hoạt động từ khi đăng ký thuế cho đến khi không còn tồn tại. Chấm dứt hiệu lực mã số thuế là thủ tục cơ quan thuế xác định mã số thuế không còn giá trị sử dụng trong hệ thống dữ liệu đăng ký thuế của ngành thuế. Cơ quan thuế thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký thuế và thông báo công khai danh sách 9 các mã số thuế chấm dứt hiệu lực sử dụng. Quy trình này được ban hành kèm theo Quyết định số 329/QĐ-TCT ngày 27/3/2014 của Tổng Cục Thuế.