MỞ ĐẦU Cháy rừng là một thảm họa không những gây ảnh hưởng rất lớn đến tài nguyên rừng, vật chất, tính mạng của con người, mà còn ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái. Ở nước ta và các nước trên thế giới, cháy rừng đã gây những thiệt hại lớn đến người, kinh tế, môi trường, xã hội, người ta đã thống kê trên thế giới cháy rừng đã thiêu hủy hàng triệu ha rừng, đặc biệt có những năm con số là gấp đôi. Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng thuộc tỉnh Quảng Bình – miền Trung Việt Nam. Với tổng diện tích 343.300ha, trong đó vùng lõi là 123.326ha và vùng đệm là 220.055,34 ha, Phong Nha – Kẻ Bàng thuộc địa phận các huyện Quảng Ninh, Bố Trạch và Minh Hóa, cách thành phố Đồng Hới 50km về hướng tây bắc.
Ở vườn Quốc Gia Phong Nha Kẽ Bàng thì diện tích vùng đệm của vườn bao gồm rừng trồng và rừng tự nhiên là chiếm diện tích lớn. Rừng trồng ở Vườn chủ yếu là rừng Thông, Keo các loại và Bạch đàn được trồng tập trung ở vùng núi thấp; thực bì dưới tán rừng chủ yếu là sim, mua, chổi, lau lách, cỏ tranh. vào mùa khô rất dễ cháy và gây cháy lan vào rừng. Việc người dân có thói quen vào rừng đốt ong và thực bì cũng làm tăng khả năng cháy rừng.
Khóa luận Nông lâm ngư Bên cạnh đó có còn có 1 số cá nhân đốt rùng để khai thác đá cũng làm nguy cơ cháy rừng xảy ra lớn. Cháy rừng là thảm hoạ gây thiệt hại nghiêm trọng cả về kinh tế và môi trường. Về đặc diểm kinh tế xã hội, mật độ dân số không đồng đều, thành phần dân tộc đa dạng với nhiều kiểu canh tác truyền thống, đời sống người dân vùng núi, gò đồi thấp và thiếu việc làm, nhận thức về phòng cháy chữa cháy rừng và bảo vệ rừng chưa cao… do đó việc kiểm soát lửa rừng còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy để nâng cao nhận thức của người dân về công tác phòng cháy chữa cháy rừng, tăng giá trị của rừng đem lại cho người dân và giảm các vụ cháy xảy ra hàng năm nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng tại Vườn Quốc Gia Phong Nha Kẽ Bàng” 1 PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Khái niệm về cháy rừng và phòng cháy chữa cháy rừng 2. Cháy rừng Theo tài liệu quản lý rừng của FAO thì : “Cháy rừng là sự xuất hiện và làm lan truyền của những đám cháy trong rừng mà không nằm trong sự kiểm soát của con người, gây nên những tổn thất về mặt tài nguyên, của cải cà môi trường’ Cháy rừng xảy ra khi hội tụ đủ 3 yếu tố. - Vật liệu cháy: Là tất cả những chất có khả năng bén lửa và bốc cháy trong đủ điều kiện có đủ nguồn nhiệt và oxy. - Oxy: Oxy tự do luôn có sẵn trong không khí (nồng độ khoảng 21-23%) và lấp đầy các khoảng trống giữa vật liệu cháy.
Khi nồng độ oxy giảm xuống 15% thì không còn khả năng duy trì sự cháy. -Nhiệt(nguồn lửa):Nguồn nhiệt có thể phát sinh do thiên nhiên như sấm sét, núi lửa phun trào.nhưng nước ta chủ yếu là do con người gây ra. Mỗi yếu tố trên đây được xem là một cạnh của tam giác, ghép chúng lại với nhau tạo thành “tam giác lửa” như hình vẽ Khóa luận Nông lâm ngư Nguồn lửa Oxy Vật liệu cháy Nếu thay đổi (giảm hoạc phá hủy ) 1,2 hoặc 3 cạnh thì “tam giác lửa” sẽ thay đổi hoặc bị phá vỡ, có nghĩa là đám cháy suy yếu hoặc bị dập tắt. Đây cũng chính là một trong những cơ sở khoa học của công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Thảm thực vật rừng dễ cháy: Trong công tác PCCCR ở Việt Nam đã xuất hiện khái niệm rừng dễ cháy. Theo đó, rừng dễ cháy là các loại rừng có khả năng tích lũy khối lượng vật liệu lớn, rất dễ xảy ra. Theo phân loại, thảm thực vật rừng dễ cháy ở Việt Nam gồm: rừng thông, rừng tràm, rừng tre nứa, rừng bạch đàn, rừng khộp, rừng keo các loại, rừng non khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, rừng đặc sản,. 2 Các loại vật liệu cháy: Theo phân bố không gian thẳng đứng trong rừng, vật liệu cháy chia thành 3 tầng.
+ Vật liệu cháy trong không khí hay vật liệu cháy trên cao: Bao gồm toàn thể thân cây rừng (cả cây đứng chết) và hệ tán rừng. Trong đó thân cây chết khô, cành khô còn vướng trên cây và đặc điểm của tán lá cây có nhựa, có dầu.góp phần quan trọng trong quá trình bén lửa. +Vật liệu cháy mặt đất: Bao gồm tất cả những thể hữu cơ ở trên mặt đất rừng như cành cây, lá rơi khô mục, gốc cây, thân cây đỗ, thảm cỏ và cây bụi, Chiều cao của lớp vật liệu cháy có thể đến 1-2m. Ngoài ra còn có thể kể cả phần thảm mục đang phân hủy và hệ thống rễ cây khô phân bố gần mặt đất.
+ Vật liệu cháy dưới mặt đất : Bao gồm các chất hữu cơ, tầng rễ cây, than bùn.tích tụ dưới đất rừng. Các loại cháy rừng: Liên quan đến ba tầng vật liêu cháy rừng trên đây, có ba lại cháy rừng: (a) cháy rừng (cháy trên ngọn),(b) cháy mặt đất (cháy dưới tán rừng) và (c) cháy ngầm (cháy than bùn). Cháy tán: là kiểu cháy trên tán cây, tán rừng và thường phát triển từ cháy dưới tán, chỉ xảy ra trong điều kiện khô hanh kéo dài, tốc độ gió trên tán Khóa rừng từ trung bình luận đến mạnh. Nôngnàylâm Loaijchays ngư rất nguy hiểm, lại thường đi kèm với gió mạnh hoặc lốc nên tốc độ lan truyền nhanh, dễ tạo ra các đám cháy “nhảy cóc”, diện tích cháy rộng và thiệt hại nghiêm trọng.
Căn cứ vào tốc độ di chuyển của đám cháy, co thể chia làm hai loại. -Cháy tán lướt nhanh: Khi tốc độ gió trên rừng rất mạnh(>15m/s), vận tốc di chuyển của đám cháy thường đạt 1. Ngọn lửa trên tán có thể đi trước ngọn lửa cháy dưới tán khoảng 50-200m. -Cháy tán chậm(ổn định): Khi tốc độ gió trên tán từ trung bình đến mạnh (5-15m/s), vận tốc di chuyển của đám cháy thường ở mức 300-900m/h.
Cháy tán diễn ra với ngọn lửa lan nhanh trên tán rừng (b). Cháy dưới tán(cháy mặt đất): là kiểu cháy mà lửa chỉ cháy ở các thành phần cành khô, thảm mục, cây bụi, cỏ khô, gỗ mục.nằm trên mặt đất rừng. Loại cháy này khá nguy hiểm, tuy ngọn lửa nhỏ. không cao hơn cháy tán cây nhưng cháy nhanh, tiêu hủy hết các loại cây tái sinh.
Thân cây và gốc cây bị trụi hết, cành lá trên tán bị khô và vàng hết. Do sức chống chịu kém nên những cây này dễ sâu bệnh tấn công và ngã đổ khi gặp gió lớn vã bão. Khóa luận Nông lâm ngư Hình 2. Cháy dưới tán với ngọn lửa cháy lan trên bề mặt đất Căn cứ vào tốc độ di chuyển của đám cháy, có thể chia thành 2 loại.
- Cháy dưới tán lướt nhanh: có tốc độ di chuyển 180m/h. Sức cháy yếu, ngọn lửa thấp nên tác hại nhẹ hơn cháy dưới tán chậm. Tuy nhiên loại rừng cháy này rất dễ chuyển thành cháy tán, nhất là khi đám cháy xảy ra ở khu vực rừng non, nhiều thảm tươi và có cành nhánh phân bố gần mặt đất. 4 - Cháy dưới tán chậm ổn định (ổn định): có tốc độ di chuyển nhỏ hơn 180m/h, thường xảy ra ở những nơi tích tụ nhiều vật liệu cháy với độ ẩm nhỏ và mức độ chất đống cao, ngọn lửa ít khi cao quá 2m.
(c) Cháy ngầm: (còn gọi là cháy ngún): là loại cháy mà ngọn lửa cháy ở lớp mùn và than bùn, phá hủy chất hũy cơ đã được tích lũy dưới mặt đất rừng. Đặt trưng hình thức này là cháy chậm, âm ỉ, mếp cháy không có ngọn lửa hoặc bùng cháy khi có gió thổi rồi lại tiếp tục âm ỉ, ít khói và thường khó nhận thấy. Vì vậy cũng khó đánh giá khi nào hoàn toàn dập tắt được đám cháy ngầm. Cháy ngầm lan tràn theo mọi hướng do sự phân bố của cháy hữu có dưới mặt đất rừng chứ không phát triển theo hướng nhất định là theo chiều gió và theo sườn dốc hướng từ dưới lên như đối với cháy mặt đất và cháy tán.
Khóa luận Nông lâm ngư Hình 2. Cháy ngầm trong tầng than bùn và thảm mục sâu dưới mặt đất Việc phân loại cháy trên có ý nghĩa tương đối. Trong thực tế có thể đồng thời xảy ra ba loại cháy trên. Mỗi lại cháy có thể phát sinh độc lập nhưng có thể chuyển hóa lẩn nhau.
Phòng cháy rừng Phòng cháy rừng là việc thực hiện đầy đủ các biện pháp tổ chức, kinh tế, xã hội, pháp chế, khoa học công nghệ, giáo dục, dự báo, cảnh báo.và điều tiết các họa động của con người và gần vùng rừng. Xây dựng các công trình phòng lửa nhằm ngăn chặn không để xảy ra cháy rừng. Chữa cháy rừng Chữa cháy rừng là huy động nhanh chống lực lượng, phương tiện dập tắt kịp thời không để lửa lan tràn , hạn chế và chấm dứt cháy rừng. Chữa cháy rừng phải đảm bảo 3 yếu tố: 5 - Dập tắt lửa khẩn trương, kịp thời, triệt để.
- Hạn chế thấp nhất sự thiệt hại về mọi mặt; - Đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người, phương tiện và dụng cụ chữa cháy. Chữa cháy được chia làm 2 loại: + Chữa cháy gián tiếp: Chữa cháy gián tiếp là biện pháp dùng lực lượng và phương tiện tạo vật chướng ngại ngăn cản cháy lan, để giới hạn đám cháy, nó thường áp dụng cho các đám cháy lớn diện tích trên 1 ha và diện tích còn lại của khu rừng rất lớn. + Chữa cháy trực tiếp: Chữa cháy trực tiếp là sử dụng tất cả các phương tiện từ thủ công đến cơ giới như: cuốc, xẻng, cào, bàn dập, cành cây tươi, thùng nước tưới, bình nước đeo vai đến máy cày, máy ủi, máy bơm nước, xe chữa cháy, máy phun hóa chất, nước có tác động trực tiếp vào đám cháy để dập tắt đám cháy. Chữa cháy trực tiếp thường được áp dụng với những đám cháy nhỏ có diện tích cháy dưới 1 ha và chủ yếu là các đám cháy mặt đất hoặc cháy dưới tán rừng.
Tổng quan lửa rừng Khóa luận Nông lâm ngư 2. Tình hình cháy rừng trên thế giới Trong những năm qua trên thế giới đã xảy ra nhiều vụ cháy rừng trên diện tích lớn đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Các vụ cháy rừng đã lan ra khắp tiểu bang Victoria, vùng Ðông Nam Úc tháng 2, 2009.