Khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng ly hôn tại nước ta hiện nay (Nguyễn Minh Tiến)

Khóa luận tốt nghiệp phân tích sâu thực trạng ly hôn tại Việt Nam. Cung cấp số liệu, nguyên nhân và giải pháp hạn chế tình trạng ly hôn hiện nay.

Trường đại học

Trường Đại học Quảng Bình

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2020

72
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm và Định Nghĩa Về Ly Hôn

Ly hôn là một hiện tượng pháp lý và xã hội phổ biến tại Việt Nam hiện nay. Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, ly hôn được định nghĩa là sự chấm dứt quan hệ vợ chồng thông qua quyết định của Tòa án hoặc thỏa thuận giữa hai bên. Thực trạng ly hôn tại các địa phương như huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai cho thấy tỷ lệ ly hôn có xu hướng gia tăng từ năm 2015 đến 2019. Nghiên cứu này tập trung vào phân tích các căn cứ ly hôn, bao gồm thuận tình ly hôn và ly hôn theo yêu cầu của một bên. Hiểu rõ về khái niệm ly hôn là nền tảng quan trọng để giải quyết các vấn đề liên quan đến chia tài sản chung, nuôi dưỡng con cái và các quyền lợi khác của vợ chồng.

1.1. Định Nghĩa Ly Hôn Theo Pháp Luật Việt Nam

Theo Bộ luật Dân sự năm 2015Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, ly hôn là hành động pháp lý chấm dứt hôn nhân. Đây là quyền của cả hai vợ chồng khi không muốn tiếp tục cuộc sống chung. Căn cứ ly hôn phải tuân theo quy định pháp luật, không tùy tiện. Các văn bản pháp luật hướng dẫn cung cấp chi tiết về điều kiện và thủ tục ly hôn, đảm bảo bảo vệ quyền lợi của cả hai bên và con cái.

1.2. Căn Cứ Ly Hôn Trong Pháp Luật Hiện Hành

Căn cứ ly hôn bao gồm hai hình thức chính: thuận tình ly hônly hôn theo yêu cầu của một bên. Đối với thuận tình ly hôn, cả hai vợ chồng đồng ý chấm dứt quan hệ hôn nhân và giải quyết xong các vấn đề về chia tài sản chung, nuôi con. Trong trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên, người yêu cầu phải chứng minh sự vỡ vụn của mối quan hệ hôn nhân. Thực tiễn áp dụng tại các tòa án cho thấy cần cải thiện và hoàn thiện các quy định này.

II. Thực Trạng Ly Hôn Tại Huyện Phú Thiện Tỉnh Gia Lai

Thực trạng ly hôn tại huyện Phú Thiện là một vấn đề đáng quan tâm trong nghiên cứu pháp luật hôn nhân và gia đình. Theo báo cáo thống kê của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện từ năm 2015 đến 2019, số lượng vụ án ly hôn có chiều hướng tăng từng năm. Dữ liệu thống kê tháng và quý cho thấy lý do chính dẫn đến ly hôn là mâu thuẫn gia đình, hiểu lầm và vô trách nhiệm. Phân tích hồ sơ vụ án cũng cho thấy các vấn đề về chia tài sản chungtranh chấp về quyền nuôi con là những mục đích chính. Sổ thụ lý vụ án của tòa án cung cấp thông tin chi tiết về quá trình xử lý các vụ ly hôn theo quy định pháp luật.

2.1. Tình Hình Chung Về Ly Hôn Tại Địa Phương

Tại huyện Phú Thiện, tỷ lệ ly hôn đã tăng đáng kể trong giai đoạn 2015-2019. Báo cáo thống kê quý cho thấy giai đoạn có ly hôn cao nhất là các quý III và IV hàng năm. Yếu tố kinh tế, thay đổi giá trị xã hộiáp lực công việc là những nguyên nhân chính. Việc giải quyết tranh chấp qua tòa án đã tăng so với thuận tình ly hôn thỏa thuận ngoài tòa án, cho thấy mâu thuẫn ngày càng sâu sắc.

2.2. Những Vấn Đề Chính Gây Nên Ly Hôn

Theo hồ sơ vụ ánnghiên cứu thực tiễn, những nguyên nhân ly hôn chính bao gồm: vô trách nhiệm gia đình, các tranh chấp về tài sản, và mâu thuẫn về nuôi dưỡng con cái. Chia tài sản chung là vấn đề phức tạp nhất, đặc biệt là quyền sử dụng đấttài sản bất động sản. Thực tiễn xử lý tại tòa án cho thấy cần có hướng dẫn rõ ràng hơn để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cả hai bên.

III. Pháp Luật Về Chia Tài Sản Chung Khi Ly Hôn

Chia tài sản chung là một trong những vấn đề phức tạp nhất trong ly hôn tại Việt Nam. Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản chung của vợ chồng phải được chia một cách công bằng. Các luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hạnh và Đinh Thị Minh Mẫn đã phân tích chi tiết pháp luật về chia tài sảnthực tiễn áp dụng. Tranh chấp về chia tài sản thường phát sinh từ việc xác định giá trị tài sản, quyền sở hữucách chia hợp lý. Những hướng hoàn thiện pháp luật này là cần thiết để giảm tranh chấp và bảo vệ quyền lợi của các bên.

3.1. Nguyên Tắc Chia Tài Sản Chung

Nguyên tắc cơ bản trong chia tài sản chung là bình đẳng và công bằng. Mỗi người trong vợ chồng có quyền hình thànhquản lý tài sản chung. Tài sản riêng của mỗi người không bị chia khi ly hôn. Thực tiễn áp dụng tại tòa án huyện Phú Thiện cho thấy việc xác định tài sản chung còn gặp khó khăn, đặc biệt là tranh chấp về nhà ởquyền sử dụng đất. Pháp luật cần hướng dẫn cụ thể hơn.

3.2. Các Vấn Đề Thực Tiễn Và Hướng Hoàn Thiện

Trong thực tế giải quyết tranh chấp, chia tài sản bất động sản gặp nhiều khó khăn do không có hướng dẫn rõ ràng về cách định giá. Các tranh chấp về chia tài sản cần có sự can thiệp của các chuyên gia định giá. Hướng hoàn thiện pháp luật nên bao gồm quy định chi tiết về cách chia tài sản chung, trình tự xác định giá trịbảo vệ quyền lợi của con cái trong chia tài sản.

IV. Giải Pháp Và Kiến Nghị Hoàn Thiện Pháp Luật Về Ly Hôn

Để hạn chế tỷ lệ ly hônbảo vệ quyền lợi của các thành viên gia đình, cần có những biện pháp hạn chế ly hônhoàn thiện pháp luật. Những biện pháp thực tiễn bao gồm: tăng cường tư vấn pháp luật, hòa giải gia đình trước khi yêu cầu ly hôn, và giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình. Kiến nghị hoàn thiện phải tập trung vào làm rõ căn cứ ly hôn, quy định chi tiết về chia tài sản chung, và bảo vệ quyền lợi con cái. Vai trò của tòa án cần được nâng cao trong giải quyết tranh chấp một cách công bằng, minh bạch và hiệu quả.

4.1. Biện Pháp Phòng Ngừa Và Hạn Chế Ly Hôn

Những biện pháp hạn chế ly hôn hiệu quả bao gồm: tư vấn pháp luật miễn phí cho các cặp vợ chồng, hòa giải gia đình bắt buộc trước khi nộp đơn ly hôn, và giáo dục đạo đức gia đình trong nhà trường. Tòa án nên hỗ trợ hòa giải thay vì chỉ giải quyết tranh chấp một cách cứng nhắc. Tăng cường nhận thức về hậu quả tâm lý, xã hội của ly hôn đối với con cái cũng là cần thiết.

4.2. Hướng Hoàn Thiện Pháp Luật Hôn Nhân Gia Đình

Pháp luật cần được hoàn thiện bằng cách: làm rõ các căn cứ ly hôn, quy định chi tiết về chia tài sản chung, bảo vệ toàn diện quyền lợi con cái, và tăng cường kỷ luật đối với những người vô trách nhiệm. Thực tiễn áp dụng từ các luận văn thạc sĩkhóa luận tốt nghiệp cho thấy cần sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn để giải quyết tranh chấp một cách hiệu quả và công bằng hơn.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LY HÔN 1. Một số khái niệm liên quan đến ly hôn 1. Khái niệm ly hôn Xã hội ngày càng phát triển, quá trình hội nhập đã thúc đẩy nền kinh tế, chính trị – xã hội phát triển một cách mạnh mẽ.

Mối quan hệ trong xã hội cũng có sự vận động thay đổi theo xu thế của nó. Gia đình là tế bào của xã hội nên cũng không nằm ngoài quy luật này [13]. Xã hội phát triển, đời sống nâng cao cùng với sự du nhập những tư tưởng cách sống mới làm cho mỗi người có một trình độ hiểu biết khác nhau, từ đó cách nhìn nhận, suy nghĩ các vấn đề khác nhau. Chính từ những quan điểm khác nhau đó, nên thường xảy ra các mâu thuẫn đối kháng.

Nhất là trong vấn đề hôn nhân nên việc tan vỡ gia đình là rất phổ biến. Những năm gần đây, số lượng án HN&GĐ ngày một gia tăng với nhiều những mâu thuẫn khác nhau đã gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, dẫn đến thực trạng suy giảm về đạo đức, lối sống, bạo lực trong gia đình ngày càng trở nên phổ biến và gia tăng. Đảng và Nhà nước ta cũng hết sức quan tâm đến vấn đề đạo đức, lối sống, nhân cách của mỗi cá nhân trong toàn xã hội. Nhà nước đã ban hành những quy phạm pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mỗi con người trong xã hội, tạo nên sự công bằng và bình đẳng trong mọi lĩnh vực.

Nam nữ được quyền tự do tìm hiểu, tự nguyên kết hôn, được pháp luật cho phép và bảo hộ nếu không ai vi phạm điều mà pháp luật cấm. Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quý trọng lẫn nhau cùng xây dựng một gia đình ấm no và hạnh phúc. Nhưng khi ý thức xây dựng cuộc sống chung không còn nữa cũng đồng nghĩa với việc những mâu thuẫn xuất hiện và cuộc sống chung không thể tiếp tục. Pháp luật luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi con người.

Cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra những xung đột, mâu thuẫn sâu sắc đến mức họ không thể chung sống với nhau nữa. Ly hôn là giải pháp cho cả vợ và chồng khi mà tình cảm vợ chồng đã thực sự tan vỡ. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, thể hiện quyền tự do kết hôn của nam nữ nhằm xác lập quan hệ vợ chồng và quyền tự do ly hôn của vợ chồng nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng và quyền tự do ly hôn theo đúng bản chất của một sự kiện - đó là hôn nhân “đã chết”, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa dối [14]. 4 Pháp luật về ly hôn của mỗi nước trên thế giới là khác nhau.

Pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không cấm hoặc đặt ra những những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn. Pháp luật của nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản quy định có thể cấm ly hôn, không quy định căn cứ ly hôn mà chỉ công nhận quyền vợ chồng được sống tách biệt nhau bằng chế định ly thân; bằng hạn chế quyền ly hôn theo thời gian xác lập quan hệ hôn nhân; theo độ tuổi của vợ chồng; và thường quy định xét xử ly hôn dựa trên cơ sở lỗi của vợ, chồng hay của cả hai vợ chồng. Một số nước Châu Âu đã từ bỏ quan niệm cấm ly hôn: ở Ý từ năm 1975, ở Tây Ban Nha từ năm 1982,. hay ở các nước theo đạo Thiên Chúa, với quan niệm sự gắn bó giữa vợ chồng để trở nên một là do Thiên Chúa thiết lập.

Bởi đó, “ Sở dĩ Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”, vì phá đổ sự kết hợp này chính là phá đổ công trình của Thiên Chúa, là bôi bác hình ảnh của Thiên Chúa đã có đó trong cuộc sống hôn nhân. Theo từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, ly hôn được hiểu là: “chấm dứt quan hệ vợ chồng do Tòa án nhân dân công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng” [16]. Cách giải thích này được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu, giải thích cho các đương sự liên quan trong thực tiễn giải quyết vụ việc ly hôn. Theo khái niệm này, ly hôn được phản ánh rõ nét, đó là việc “chấm dứt quan hệ vợ chồng”, nghĩa là giữa hai bên vợ chồng không còn tồn tại quan hệ hôn nhân, mọi quyền và nghĩa vụ của hai bên sẽ được pháp luật giải quyết thỏa đáng, đảm bảo quyền lợi cho các bên.

Theo Lê-nin: “thực ra tự do ly hôn tuyệt nhiên không có nghĩa là làm “tan rã” những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh”. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, ly hôn là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp sâu sắc [14]. Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị đều thông qua Nhà nước, bằng pháp luật (hay tục lệ) quy định chế độ hôn nhân phù hợp với ý chí của Nhà nước. Tức là Nhà nước bằng pháp luật quy định những điều kiện nào xác lập quan hệ vợ chồng, đồng thời xác lập trong những điều kiện căn cứ nhất định mới được phép xóa bỏ (chấm dứt) quan hệ hôn nhân.

5 Trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học Luật HN&GĐ nói riêng, việc đưa ra khái niệm đầy đủ về ly hôn có ý nghĩa quan trọng, phản ánh quan điểm chung nhất của nhà nước ta về ly hôn, tạo cơ sở lý luận cho việc xác định bản chất pháp lý của ly hôn, xác định nội dung, phạm vi điểu chỉnh của các quan hệ pháp luật HN&GĐ về ly hôn và các vấn đề phát sinh khác. Điều 8 Khoản 8 Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 quy định: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng”. Khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 quy định: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”. Nhìn chung, khái niệm ly hôn của Luật HN&GĐ năm 2014 có sự thay đổi cơ bản so với khái niệm ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000.

Tuy nhiên, về bản chất, hai điều luật đó đều phản ánh được ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng, quan hệ hôn nhân, để giúp các bên trong quan hệ hôn nhân được giải thoát khỏi tình trạng hôn nhân đổ vỡ. Khái niệm ly hôn trong luật HN&GĐ năm 2014 mang tính chất chặt chẽ hơn khi đề cập tới nội dung: “bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”. Thông qua đó để phản ánh tính quyền lực của nhà nước, cũng như phản ánh bản chất của ly hôn nói riêng là mang tính chất giai cấp. Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử, có vai trò quan trọng trong việc đóng góp phần tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật.

phán quyết ly hôn của Tòa án thể hiện dưới hình thức: bản án, quyết định. Nếu hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn, giải quyết với nhau được tất cả các nội dung sau khi ly hôn thì Tòa án công nhận ly hôn và ra quyết định dưới hình thức quyết định công nhận thuận tình ly hôn. Nếu vợ chồng mâu thuẫn, tranh chấp thì Tòa án xét xử và ra phán quyết ly hôn dưới dạng bản án. Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ, điều đó là để cho vợ, chồng, con cái và các thành viên trong gia đình xây dựng cuộc sông mới.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực của việc ly hôn, thì ly hôn có nhiều điểm tiêu cực: gây chia rẽ quan hệ gia đình, gây ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống và tương lai của các thành viên, đặc biệt là các con, bên cạnh đó còn ảnh hưởng tới xã hội. 6 Như vậy, ly hôn chính là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ hoặc chồng, nó là kết quả của hành vi có ý chí của vợ, chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình. Khái niệm về căn cứ ly hôn Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, hôn nhân (trong đó có ly hôn) là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp sâu sắc.

Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị đều thông qua Nhà nước, bằng pháp luật (hay tục lệ) quy định chế độ hôn nhân phù hợp với ý chí của Nhà nước [22]. Tức là Nhà nước bằng pháp luật quy định những điều kiện nào xác lập quan hệ vợ chồng, đồng thời xác lập trong những điều kiện căn cứ nhất định mới được phép xóa bỏ (chấm dứt) quan hệ hôn nhân. Đó chính là căn cứ ly hôn được quy định trong pháp luật của Nhà nước. Hôn nhân là hiện tượng mang tính xã hội mang tính giai cấp sâu sắc.

Ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị đều thông qua nhà nước, bằng pháp luật quy định chế độ hôn nhân phù hợp với lợi ích của giai cấp mình nhà nước xác định rõ những trường hợp được phép kết hôn và những trường hợp được phép ly hôn. Nhà nước quy định những căn cứ để được kết hôn và những điều kiện để được ly hôn, ý chí của các bên đương sự không phải là điều kiện quyết định để phá bỏ hôn nhân mà việc ly hôn phải căn cứ vào điều kiện được quy đinh trong Luật HN&GĐ, nó phản ánh hôn nhân không thể tồn tại được nữa nghĩa là hôn nhân đã chết. Việc quy định những căn cứ ly hôn phải phù hợp với bản chất của sự việc, phù hợp với tình trạng thực tế của hôn nhân, phải xác định trong điều kiện nào thì cuộc hôn nhân đã không còn tồn tại. Việc tòa án xét xử cho ly hôn chỉ là việc công nhận một thực tế khách quan là cuộc hôn nhân đó không tồn tại nữa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ