CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CÀ PHÊ 1. Cơ sở lý luận về phát triển và phát triển sản xuất 1. Phát triển sản xuất 1. Khái niệm về phát triển Ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về sự phát triển: Phát triển là quá trình là tăng thêm năng lực của con người hoặc môi trường để đáp ứng nhu cầu của con người hoặc nâng cao chất lượng cuộc sống con người.
Sản phẩm của sự phát triển là con người được khỏe mạnh, được chăm sóc sức khỏe tốt, có nhà ở và tiện nghi sinh hoạt, được tham gia vào hoạt động sản xuất theo chuyên môn đào tạo và được hưởng thụ các thành quả của quá trình phát triển. Như vậy phát triển không chỉ bao hàm việc khai thác và chế biến các nguồn tài nguyên, xây dựng cơ sở hạ tầng, mua và bán sản phẩm mà còn bao gồm các hoạt động không kém phần quan trọng như chăm sóc sức khỏe, an ninh xã hội, đặc biệt là an ninh con người, bản tồn thiên nhiên,… phát triển là một tổ hợp các hoạt động, một số mục tiêu xã hội, một số mục tiêu kinh tế, dựa trên tài nguyên thiên nhiên, vật chất, trí tuệ nhằm phát huy hết khả năng của con người, được hưởng một cuộc sống tốt đẹp hơn. Tuy có nhiều quan niệm về sự phát triển, nhưng tựu trung lại các ý kiến đều cho rằng: Phát triển là một quá trình vận động đi lên. Trong khái niệm này, phát triển phải là quá trình lâu dài, luôn thay đổi và xu hướng thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện.
Phát triển sản xuất: Phát triển sản xuất là sự phát triển với tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong thời gian dài trong lĩnh vực sản xuất nhưng sự phát triển ấy phải trên cơ sở thay đổi theo hướng hoàn thiện mọi mặt về kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế. Nội dung của phát triển sản xuất cà phê 1. Khái niệm phát triển sản xuất cà phê Phát triển sản xuất cà phê là quá trình phát triển đồng bộ, hài hoà, hợp lý về quy mô, diện tích, năng suất, sản lượng và chất lượng cà phê nhưng sự phát triển ấy phải trên cơ sở thay đổi theo hướng hoàn thiện về kinh tế, xã hội và môi trường. Nội dung của phát triển sản xuất cà phê * Phát triển về diện tích Diện tích cà phê là thước đo dùng để đo độ lớn của bề mặt trồng cà phê.
Diện tích bề mặt trồng cà phê là toàn bộ những gì ta có nhìn thấy của đối tượng. Để xác định được tiềm năng phát triển sản xuất cà phê ở địa phương trước hết phải xác định được chỉ tiêu về diện tích cà phê. * Phát triển về quy mô Quy mô sản xuất thể hiện ở khối lượng sử dụng các đầu vào. Trong khi tỷ lệ giữa các yếu tố sản xuất không đổi, các điều kiện khác như nhau, thí dụ tăng quy mô đầu vào lên gấp hai lần thì cũng làm sản lượng tăng gấp hai lần.
Với sản xuất cà phê, quy mô cho biết tình hình sản xuất cụ thể tại một địa phương là tập trung hay manh mún. Nếu diện tích cà phê lớn, sản lượng cao nhưng bình quân diện tích trên mỗi hộ thấp, điều đó có nghĩa địa phương đó sản xuất rất phân tán. Để phát triển sản xuất cần mở rộng quy mô canh tác cho các hộ dân. * Phát triển về năng suất: Năng suất cây trồng là sản lượng cây trồng đạt được trên một đơn vị diện tích (thường là một ha) sau một vụ sản xuất đối với cây hằng năm hay sau một năm đối với cây lâu năm đến tuổi thu hoạch.
Phát triển về năng suất là tạo ra sản mức sản lượng ngày càng cao trên một đơn vị diện tích. Luan van 8 * Phát triển về chất lượng cà phê Chất lượng cà phê là tập hợp những đặc tính của cà phê thỏa mãn được nhu cầu đã nêu ra hoặc những nhu cầu tiềm ẩn của khách hàng. Đánh giá chất lượng cao hay thấp phải đứng trên quan điểm người tiêu dùng. Muốn nâng cao chất lượng cà phê cần phải kết hợp nhiều yếu tố từ khâu chọn giống, cải tạo đất rồi đến các biện pháp kỹ thuật như bón phân, tưới nước phải đảm bảo quy trình và quan trọng hơn cả đó là chọn đúng thời điểm để thu hoạch cho quả chín đều.
Các chỉ tiêu đánh giá của phát triển sản xuất cà phê * Chỉ tiêu diện tích trồng cà phê Bao gồm sự gia tăng về tổng diện tích, diện tích cho sản phẩm, diện tích trồng mới. Diện tích cà phê được coi là phát triển khi có sự tăng lên về số lượng đơn vị qua các năm. * Quy mô cà phê: Bao gồm sự gia tăng về quy mô giống cà phê và quy mô diện tích. Quy mô về giống thể hiện ở số lượng chủng loại cà phê được đưa vào sản xuất ngày một tăng lên.
Phát triển về quy mô giống là sử dụng đa dạng chủng loại ứng với từng loại đất, những dòng có khả năng chống chịu lại thời tiết khắc nghiệt và sâu bệnh, cho chất lượng cao. Quy mô về diện tích thể hiện sự phát triển khi số lượng đơn vị diện tích bình quân trên đầu người tăng lên. * Chỉ tiêu về năng suất Thể hiện sự gia tăng số đơn vị sản lượng trên một đơn vị diện tích. Năng suất là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu, bởi muốn đánh giá được thực trạng sản xuất của một địa phương hay một cơ sở sản xuất kinh doanh thì người ta xem xét đến năng suất cây trồng.
* Chỉ tiêu về sản lượng Luan van 9 Sản lượng luôn là chỉ tiêu để xem xét hoạt động sản xuất cà phê, nó cũng có vai trò khá quan trọng trong việc phản ánh về mặt lượng của quá trình phát triển sản xuất cà phê. Muốn phát triển sản xuất cà phê, điều kiện tiên quyết là phải gia tăng về sản lượng sản phẩm này. Sản lượng tăng lên đồng nghĩa với sự tăng lên của diện tích và năng suất. * Chỉ tiêu về chất lượng cà phê Chất lượng cà phê là tổng hợp của các yếu tố: chủng loại thực vật, điều kiện địa hình, khí hậu - thời tiết, cách chăm sóc, thu hái, bảo quản, chuẩn bị xuất khẩu và vận chuyển.
Trong đó, các khâu canh tác, thu hái, bảo quản, chuẩn bị xuất khẩu và vận chuyển là con người có thể tác động, can thiệp, thay đổi. * Giá trị tăng thêm (gia tăng) (VA) Là chỉ tiêu được xem xét để phản ánh hiệu quả phát triển sản xuất cà phê, năng suất lao động, mức tăng thu nhập của người dân (thu nhập/người/năm), giá trị tăng thêm trên một người sẽ phản ánh phần thu nhập của người dân trên địa bàn nghiên cứu. Các chỉ tiêu về giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm trên một lao động sản xuất sẽ phản ánh hiệu quả sản xuất về sử dụng nguồn lực. Giá trị tăng thêm VA là phần giá trị tăng thêm của người lao động khi sản xuất ra một đơn vị diện tích (thường tính trong 1 năm) chưa kể khấu hao tài sản cố định.
VA = GO – IC + Giá trị sản xuất (GO) Tổng giá trị sản xuất (GO) của từng ngành kinh tế và sản xuất cà phê: Tổng giá trị của các ngành sản xuất và sản xuất cà phê được tính bằng cách lấy sản lượng sản phẩm năm báo cáo nhân với đơn giá. Để có thể so sánh được các chỉ tiêu nghiên cứu và thống nhất nội dung kinh tế. Tổng giá trị sản Luan van 10 xuất (GO) sẽ được nghiên cứu trên phạm vi toàn tỉnh KonTum, phạm vi từng vùng, từng ngành kinh tế. Giá trị sản xuất (GO) được xác định là giá trị bằng tiền của toàn bộ sản phẩm cà phê được sản xuất ra (thường là một năm) trên một đơn vị diện tích.
GO P * Q Trong đó: GO: Tổng giá trị sản xuất Q: Khối lượng cà phê P: Đơn giá cà phê + Chi phí trung gian (IC) Chi phí trung gian: là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên và dịch vụ sản xuất. Trong quá trình sản xuất cà phê chi phí trung gian bao gồm các khoản chi phí vật chất và dịch vụ như: Giống, phân bón, thuốc trừ sâu, làm đất, bảo vệ thực vật, cung cấp nước.không kể công lao động và chưa trừ khấu hao. + Tỷ suất GTSX theo chi phí trung gian: Là tỷ số giá trị sản xuất của sản phẩm thu được với chi phí trung gian bỏ ra để thu được kết quả đó. TGO = GO/IC (lần) * Lợi nhuận (Pr): Là phần thu được sau khi trừ toàn bộ chi phí (TC), bao gồm chi phí vật chất, các dịch vụ cho sản xuất, công lao động, khấu hao tài sản cố định.
Công thức tính : Pr = GO – TC + Tỷ suất giá trị tăng thêm theo chi phí trung gian: Chỉ tiêu này thể hiện cứ bỏ ra 1 đồng vốn vào sản xuất thì sẽ thu được bao nhiêu giá trị gia tăng thêm. TVA =VA/IC (lần) 1. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất cà phê 1. Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên Luan van 11 * Điều kiện đất đai Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt đối với cây cà phê, nó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng, chất lượng cà phê nguyên liệu và cà phê thành phẩm.
Đất để trồng cà phê phải là đất tốt, màu mỡ, có độ sâu vì cà phê là cây lâu năm, có bộ rễ khoẻ, phát triển tốt và ăn sâu tới hơn 1m. Trên nền đất tốt và được chăm sóc chu đáo thì không những cây cà phê sinh trưởng tốt, năng suất cao mà còn kéo dài được tuổi thọ. Ngoài độ sâu trên 70cm, đất còn phải có lý tính tốt, tức là tơi xốp, để bộ rễ và nhất là rễ lông hút phát triển, độ tơi xốp cần đạt 50 - 60%, vừa dễ thoát nước khi mưa to vừa thuận lợi cho bộ rễ phát triển. Rễ cây cà phê rất mẫn cảm với đất bí, đọng nước dễ bị thối và ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây.
Trong mùa khô đất giữ được ẩm tốt là đất đỏ bazan, đó là một trong nhiều ưu điểm của đất bazan đối với cây cà phê. Theo nghiên cứu, các loại đất có N tổng số 0,15 - 0,2%, P2O5 tổng số 0,08 - 0,1% và K2O tổng số 0,1 - 0,5% là thích hợp để trồng cà phê. Hàm lượng các chất dinh dưỡng phải ở dạng dễ tiêu. Ngoài NPK để trồng cà phê cần loại đất có ít nhất 2% mùn.