Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực quản trị tập đoàn kinh tế. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực quản trị Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam. Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực quản trị Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam.
7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu các công trình, đề tài liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu về tập đoàn, tập đoàn kinh tế, tập đoàn kinh tế nhà nước, quản lý nhà nước về tập đoàn kinh tế nhà nước - Theo chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright (khóa 2011 – 3013): “Tập đoàn kinh tế là tổ hợp các đơn vị độc lập về pháp lý, hoạt động đa ngành được liên kết với nhau bằng những mối liên kết pháp lý (ví dụ mối quan hệ sở hữu) chính thức hay mối quan hệ gia đình”. Cấu trúc sở hữu và quyền kiểm soát của TĐKT khá đa dạng, có những tập đoàn do nhà nước là chủ sở hữu và kiểm soát, song có những nước sở hữu tập đoàn là tư nhân hay chỉ một gia đình theo chiều dọc hay chiều ngang.
- Theo báo cáo Hội thảo của Viện Quản lý kinh tế Trung ương (2014), đề tài: “Một số vấn đề lý luận về thực tiễn xây dựng tập đoàn kinh tế Việt Nam (mã số 04.15)” thuộc chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước KX-04/11.15, đề tài tập trung nghiên cứu, giải quyết các vấn đề về: (1) Cơ sở lý luận về hình thành, phát triển các TĐKT, (2) Kinh nghiệm quốc tế về hình thành, xây dựng, phát triển, quản lý các TĐKT, (3) Chủ trương, chính sách về hình thành, xây dựng, phát triển và quản lý các TĐKT Việt Nam, (4) Thực tiễn xây dựng, hoạt động của các TĐKT Việt Nam, (5) Dự báo các yếu tố tác động đến phát triển các TĐKT nhà nước và tư nhân, (6) Quan điểm, định hướng, giải pháp và kiến nghị phát triển TĐKT Việt Nam trong thời gian tới. - Vũ Phương Đông (2015), Luận án tiến sĩ, đề tài: “Những vấn đề pháp lý về tập đoàn kinh tế Việt Nam”, chuyên ngành luật kinh tế, luận án đã nêu khái niệm, đặc điểm, vai trò của TĐKT và đưa ra quan điểm, nội dung về pháp luật TĐKT Việt Nam và đánh giá thực trạng pháp luật xây dựng TĐKT, các hình thức liên kết trong tập đoàn về quản lý, điều hành nội bộ tập đoàn và quản lý, giám sát của nhà nước đối với TĐKT. Từ đó, nêu các nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về mô hình quản trị nội bộ tập đoàn và QLNN đối với các TĐKT nhà nước. - Lê Quang Cảnh (2017), đề cập đến cơ sở lý luận hình thành và phát triển, các mô hình quản trị TĐKT tư nhân ở trên thế giới và Việt Nam hiện nay; những bình luận, đánh giá các mô hình quản trị.
8 - Chen, Xinxiang (2010), trong bài viết: Modes of state intervention and business group performance in China’s trancitional economy, đề cập đến các nguyên tắc thành lập TĐKT, trong đó có hai loại: một loại không cho phép tư nhân tham gia, song phải tránh độc quyền; một loại khác mở cửa cho tư nhân tham gia, song nhà nước giữ cổ phần chi phối. Ngoài ra, cũng quy định số vốn đăng ký tối thiểu cho công ty mẹ (50 triệu nhân dân tệ) và số thành viên tối thiểu là 5; tách bạch quản lý hành chính với quản lý kinh doanh của công ty mẹ với các thành viên, quan hệ công ty mẹ với thành viên là quan hệ sở hữu cổ phần hoặc quan hệ kỹ thuật/công nghệ sản xuất. Tập đoàn kinh tế nhà nước thường được vay trợ cấp từ các ngân hàng do nhà nước kiểm soát, thuê đất với giá rẻ và thường hoạt động trong các lĩnh vực độc quyền. Nhà nước can thiệp vào các TĐKT chủ yếu qua góp vốn, kiểm soát tài chính thông qua ngân hàng thương mại nhà nước, bổ nhiệm cán bộ quản lý là đảng viên trong tập đoàn.
Đặc biệt, nếu cần nhà nước có thể can thiệp vào tổ chức bộ máy tập đoàn như bổ nhiệm bí thư chi bộ, tổng giám đốc (TGĐ), phó tổng giám đốc (PTGĐ) nhưng gần đây việc giám sát được giảm bớt, tăng quyền quyền tự chủ, trong đó có tự chủ tài chính. Thực tiễn cho thấy nhà nước can thiệp càng sâu thì hiệu quả sản xuất kinh doanh (SXKD) của tập đoàn càng thấp.W (2005), trong bài viết: The Critical Role of Business groups in China, khi nghiên cứu các tập đoàn của Trung Quốc, hai tác giả có đề cập đến kinh nghiệm TĐKT nhà nước và QLNN đối với TĐKT của Nhật Bản và Hàn Quốc. Đối với Nhật Bản, cơ cấu và hoạt động của TĐKT có quan hệ chặt chẽ với Chính phủ; Chính phủ can thiệp vào hoạt động của tập đoàn; tập đoàn cũng có ảnh hưởng đến hoạch định chính sách của Chính phủ. Sự can thiệp của Chính phủ cũng dẫn đến những hậu quả tiêu cực nhưng theo Wade (1990), sự can thiệp của Chính phủ cũng làm cho các tập đoàn tăng trưởng nhanh.
Khác với Nhật Bản, TĐKT Hàn quốc chủ yếu là liên kết các công ty gia đình qua quan hệ sở hữu vốn cổ phần. Chính phủ có quan hệ mật thiết với tập đoàn và tạo nhiều ưu đãi cho hoạt động như thuế, tài chính … Chính phủ cũng định hướng mục tiêu kinh tế cho các tập đoàn, quy định tỷ lệ nợ trên tổng tài sản xuống 200%, quy trách nhiệm cá nhân cho lãnh đạo tập đoàn, minh bạch hóa thông tin qua báo cáo tài chính, sử dụng kiểm toán độc lập. 9 - Trần Tiến Cường và cộng sự (2005), đã khái quát một số quan niệm, định nghĩa về tập đoàn, TĐKT, TĐKT nhà nước ở một số quốc gia Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, từ đó nêu ra khái niệm tập đoàn: “Tập đoàn là tổ hợp các doanh nghiệp bao gồm công ty mẹ, các công ty con và doanh nghiệp liên kết khác. Công ty mẹ là hạt nhân của tập đoàn kinh tế, là đầu mối liên kết giữa các thành viên, doanh nghiệp liên kết với nhau.
Công ty mẹ nắm quyền kiểm soát, chi phối các quyết định chiến lược phát triển và nhân sự, chi phối hoạt động của các thành viên. Bản thân công ty mẹ không có tư cách pháp nhân. Mỗi công ty con có thể lại gồm công ty mẹ và công ty con trực thuộc”. Tập đoàn kinh tế nhà nước do nhà nước thành lập, trong đó công ty mẹ là công ty TNHHMTV mà nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Quan hệ giữa công ty mẹ với công ty con, công ty liên kết là quan hệ góp vốn cổ phần và các quan hệ kinh tế, kỹ thuật, công nghệ khác. - Vũ Mạnh Chiến và Nguyễn Thị Xuân Quỳnh (2013), đã đề cập đến thực tiễn mô hình và hoạt động của các tập đoàn ở một số quốc gia như Thụy Điển, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, trong đó đi sâu mối quan hệ sở hữu với quản lý tập đoàn theo các mức độ khác nhau và giải pháp cho quản lý tập đoàn ở Việt Nam. - Nguyễn Thiết Sơn (2004), đề cập đến các hình thức tổ chức của các TĐKT lớn, có hai loại chủ yếu là concern và congtromerate. Trong đó, concern là hình thức tổ chức TĐKT hiện đại, có mối liên kết chiều ngang giữa các công ty có tư cách pháp nhân trong cùng một ngành sản xuất hoặc giữa các ngành có mối liên hệ chặt chẽ với nhau về kinh tế, kỹ thuật.
Mối quan hệ giữa các thành viên trong concern dựa trên cơ sở lợi ích thống nhất, thông qua các quan hệ hợp tác cùng sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ, cùng hợp tác SXKD và sử dụng chung hệ thống tín dụng. Điều hành concern là công ty mẹ “holding company” liên kết với một ngân hàng lớn. Congtromerate được hình thành trên cơ sở liên kết theo chiều dọc, tức là công ty lớn thâm nhập vào các doanh nghiệp thuộc các ngành kinh doanh khác nhau, không có sự liên kết ràng buộc hoặc quy định về kỹ thuật, sản xuất hay thương mại. Mối quan hệ giữa công ty mẹ và các thành viên trong tập đoàn chủ yếu là về tài chính, được điều hành thông qua cơ cấu quyền lực và liên kết với ngân hàng đầu tư, ngân hàng thương mại hoặc các công ty đầu tư và bảo hiểm.
10 - Nguyễn Thái Bình (2016), đã tiếp cận TĐKT nhà nước ở Việt Nam theo các quy định của pháp luật Việt Nam về TĐKT nhà nước; đánh giá quá trình hình thành, phát triển TĐKT nhà nước và nêu ra các đặc điểm của TĐKT nhà nước: hình thành trên cơ sở chuyển đổi tổng công ty nhà nước, cấu trúc theo liên kết công ty mẹ, công ty con với ba cấp, trong đó hạt nhân là công ty mẹ với 100% vốn nhà nước, hoạt động trong ngành kinh tế mũi nhọn, là một trong những công cụ để nhà nước điều hành kinh tế vĩ mô; quản lý, giám sát tập đoàn được thực hiện qua báo cáo của hội đồng quản trị (HĐQT) công ty mẹ, thông qua kiểm toán công ty mẹ và thành viên; nhà nước là chủ sở hữu tập đoàn thông qua phần vốn nhà nước ở công ty mẹ và thành viên; Thủ tướng Chính phủ là người quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu công ty mẹ theo đề nghị của bộ quản lý ngành và các cơ quan liên quan. Như vậy, QLNN về tập đoàn thông qua vai trò chủ sở hữu đối với phần vốn đầu tư vào tập đoàn và thực hiện việc giám sát thông qua kiểm tra, kiểm toán, các báo cáo của HĐQT công ty mẹ và quy định về tổ chức quản lý đối với công ty mẹ. Nguồn nhân lực quản trị, phát triển nguồn nhân lực quản trị tập đoàn, doanh nghiệp 1. Nhà quản trị, nguồn nhân lực quản trị tập đoàn, doanh nghiệp - Phạm Công Đoàn (2010), đề cập đến khái niệm, nội dung, tiêu chí đánh giá năng lực CEO (Chief Executive Office) theo cách tiếp cận ASK (Attitude, Skill, Knowledge) và các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng lực CEO, từ đó nêu ra các giải pháp nâng cao năng lực CEO, tập trung vào các giải pháp đào tạo, tự đào tạo, tạo môi trường học và tự học, tạo nên tổ chức học tập, chế độ đãi ngộ để nâng cao năng lực CEO.