MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đi lên từ một nước có nên nông nghiệp lạc hậu, trên 70% dân số làm nông nghiệp, vì vậy nền nông nghiệp nước ta có vai trò rất quan trọng, ngoài đóng góp vào ngân sách nhà nước với tỷ trọng lớn nó còn đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định và phát triển kinh tế đất nước. Sau những năm đổi mới, nông nghiệp nước ta đã có những chuyển biến rõ rệt. Nhà nước đã có những chính sách, chương trình, các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư nhiều hơn nhằm tạo điều kiện cho kinh tế nông nghiệp phát triển, đưa đất nước từ một nước nhập khẩu lương thực thành một nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới.
Ngày nay cùng với sự phát triển của kinh tế đất nước, kinh tế nông nghiệp đã và đang là ngành kinh tế trọng yếu của nước ta. Đặc biệt chúng ta đã bước vào hội nhập kinh tế quốc tế, một nhu cầu tất yếu đặt ra cho kinh tế nông nghiệp là xóa bỏ việc sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, phân tán. Kinh tế thị trường hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải có các mô hình sản xuất mới hợp lý hơn để đáp ứng yêu cầu của sản xuất hàng hóa. Trước yêu cầu đó kinh tế hộ nông dân đã và đang tồn tại, phát triển ngày càng nhanh trên mọi vùng, mọi khu vực trên cả nước.
Nguyên Phúc là một xã miền núi đặc biệt khó khăn của huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn người dân chủ yếu sống dựa vào nghề trồng lúa là nghề chính mang lại thu nhập cho các hộ nông dân ở nơi đây. Thực tế cho thấy ở xã đã có rất nhiều gia đình từ việc phát triển kinh tế hộ gia đình bằng nhiều hình thức, cách làm khác nhau mà vươn lên xóa đói giảm nghèo cải thiện cuộc sống gia đình. n 6 Tuy nhiên trong những năm qua kinh tế hộ dù đã đạt được những kết quả to lớn, thế nhưng trong quá trình phát triển các hộ vẫn đang còn tồn tại những khó khăn cần được giải quyết như: - Sản xuất trong kinh tế hộ hiện nay chủ yếu là hoạt động sản xuất nông nghiệp, yêu cầu ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất bị kìm hãm bởi diện tích đất manh mún, quy mô nhỏ do kết quả của việc chia đất bình quân. - Mâu thuẫn giữa tăng dân số và thiếu việc làm, kết hợp với tính thời vụ trong nông nghiệp tạo ra hiện tượng dư thừa lao động, dẫn đến năng suất lao động bình quân thấp.
- Tình trạng thiếu kiến thức, thiếu vốn đầu tư đang là tình trạng chung của các hộ gia đình nên khi có chính sách cho vay vốn hộ cũng không biết sử dụng sao cho có hiệu quả. - Vấn đề tiếp cận thị trường đầu ra cũng như đầu vào vô cùng khó khăn hầu hết người dân rơi vào tình trạng được mùa thì mất giá và ngược lại. Đời sống người dân ở đây còn gặp nhiều khó khăn đã gây trở ngại cho tiến trình phát triển kinh tế địa phương nói riêng và đất nước nói chung, xuất phát từ thực trạng trên em xin tiến hành nghiên cứu đề tài: "Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế hộ tại xã Nguyên Phúc, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn". Mục tiêu nghiên cứu đề tài 1.
Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng và tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân tại xã Nguyên Phúc, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, từ đó đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết các vấn đề khó khăn, thúc đẩy phát triển kinh tế hộ tại xã trong những năm tiếp theo. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Nguyên Phúc. - Đánh giá thực trạng sản xuất và kinh tế của các hộ nông dân trong xã. n 7 - Đánh giá thu nhập và cơ cấu sản xuất của các hộ nông dân trong xã, đồng thời tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển sản xuất của hộ nông dân trên địa bàn xã.
- Đánh giá thuận lợi, khó khăn và đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế tại địa phương. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu - Quá trình thực tập tốt nghiệp giúp cho sinh viên có điều kiện tiếp cận với thực tế, giúp sinh viên củng cố thêm những kiến thức kỹ năng đã đươc học đồng thời có cơ hội vận dụng chúng vào thực tế và rút ra bài học kinh nghiệm thực tế để phục vụ trong công tác sau này. - Vận dụng và phát huy được những kiến thức đã học tập và nghiên cứu.
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và sử lý thông tin của sinh viên trong quá trình nghiên cứu. Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá được đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân xã Nguyên Phúc. Đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân cho người dân trong xã Nguyên Phúc nói riêng, góp phần ổn định xã hội nói chung. - Kết quả của đề tài là cơ sở để các nhà quản lý, các cấp lãnh đạo địa phương sử dụng là tài liệu trong quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân trong thời gian tới.
n 8 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Lý luận về hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ 2. Một số khái niệm về hộ, hộ nông dân Hộ nông dân đã có và tồn tại từ rất lâu, nó gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người và trải qua nhiều hình thức khác nhau. Nó là một trong những đối tượng được các nhà khoa học, các tổ chức trên các lĩnh vực khác nhau quan tâm.
Đứng ở mỗi góc độ khác nhau, họ đưa ra những quan điểm khác nhau về hộ. - Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế người ta đã định nghĩa về hộ như sau: “Hộ là tất cả những người sống chung một mái nhà, nhóm người đó bao gồm cả những người cùng chung một huyết tộc và những người làm công”. - Trên phương diện thống kê, Liên hợp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”. - Theo Raul Iturna của Đại học Tổng hợp Liobon thì: “Hộ là những người cùng chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân và cộng đồng.” - Theo Frank Ellis: “Hộ nông dân là các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ không cao”[3].
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập tới khái niệm hộ nông dân. Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”[6]. n 9 Theo Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”[7]. Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc trong phân tích điều tra nông thôn năm 2011 cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,.) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”[1].
Kinh tế hộ nông dân 2. Khái niệm “Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội. Trong đó các nguồn lực sản xuất như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất, có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh là tùy thuộc vào chủ hộ. Được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện để phát triển”[4].
Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông - lâm nghiệp được hình thành và tồn tại trên cơ sở sử dụng đất đai, sức lao động, tiền vốn,.của gia đình mình là chính. Đặc trưng của kinh tế hộ nông dân - Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu, quá trình quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất. Sở hữu trong nông hộ là sở hữu chung, nghĩa là mọi thành viên trong hộ đều có quyền sở hữu với những tư liệu sản xuất vốn có, cũng như các tài sản khác của hộ. Mặt khác do dựa trên cơ sở kinh tế chung và có cùng chung một ngân quỹ nên mọi người trong hộ đều có ý thức trách nhiệm rất cao và việc bố trí sắp xếp công việc cũng rất linh hoạt, hợp lý.
Từ đó dẫn đến hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông hộ rất cao. n 10 - Kinh tế hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh rất cao. Do kinh tế hộ có quy mô nhỏ nên dễ điều chỉnh hơn so với các doanh nghiệp nông nghiệp khác. Nếu gặp điều kiện thuận lợi hộ có thể tập trung mọi nguồn lực vào sản xuất để mở rộng sản xuất, khi gặp điều kiện bất lợi họ dễ dàng thu hẹp quy mô, thậm chí hộ có thể trở về sản xuất tự cung tự cấp.
- Có sự gắn bó chặt chẽ giữa kết quả sản xuất với lợi ích người lao động. Trong kinh tế hộ mọi người gắn bó với nhau cả trên cơ sở kinh tế lẫn huyết tộc và có chung ngân quỹ nên dễ dàng có được sự nhất trí, sự đồng tâm, hiệp lực để cùng nhau phát triển kinh tế hộ của mình. Vì vậy có sự gắn bó chặt chẽ giữa kết quả sản xuất với người lao động. Lợi ích kinh tế đã thực sự trở thành động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân, là nhân tố nâng cao hiệu quả sản xuất của kinh tế hộ.
- Kinh tế hộ là đơn vị sản xuất nhỏ nhưng lại rất hiệu quả, quy mô nhỏ lại không đồng nghĩa với sự lạc hậu, năng suất thấp. Trên thực tế nông hộ vẫn có khả năng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới để nâng cao năng xuất lao động. - Kinh tế hộ nông dân sử dụng các lao động và tiền vốn của chủ hội là chủ yếu.