PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong nền kinh tế nhiều thành phần của Việt Nam, theo quan điểm của Đảng và Chính phủ khu vực kinh tế nhà nƣớc đóng vai trò chủ đạo nắm giữ nhiều bộ phận then chốt, thành phần kinh tế tƣ nhân cũng ngày càng phát triển và dần chiếm một vị trí xứng đáng song hành với khu vực kinh tế nhà nƣớc trong nền kinh tế quốc dân. Kinh tế hộ cá thể là một bộ phận cấu thành của khu vực kinh tế tƣ nhân hiện nay ở Việt Nam, không chỉ tạo ra một lƣợng sản phẩm đáng kể trong tổng sản phẩm xã hội mà nguồn thu từ thành phần kinh tế này vào ngân sách nhà nƣớc cũng chiếm một tỷ trọng tƣơng đối lớn, đồng thời thu hút một lực lƣợng lớn lao động nhàn rỗi, đáp ứng mọi yêu cầu của xã hội mà thành phần kinh tế nhà nƣớc chƣa đảm bảo hết, tạo thu nhập và từng bƣớc góp phần nâng cao đời sống của các tầng lớp nhân dân. Thực tế cho thấy, khu vực kinh tế hộ cá thể có nhiều yếu tố yếu thế so với khu vực kinh tế nhà nƣớc và cả bộ phận kinh tế doanh nghiệp: có quy mô còn khá nhỏ lẻ, manh mún, công nghệ sản xuất lạc hậu, chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ cung cấp chƣa đồng đều, thiếu tính cạnh tranh.
Sự phát triển của kinh tế hộ cá thể rất cần các chính sách hỗ trợ phát triển của nhà nƣớc và cả sự liên kết thiện chí của các doanh nghiệp nhà nƣớc và doanh nghiệp tƣ nhân. Trong thời gian vừa qua, đứng trên góc độ cả nƣớc, những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế hộ cá thể phát triển vẫn chƣa thực sự đƣợc quan tâm và phát huy hiệu quả. Quận Cầu Giấy nằm ở phía Tây nội thành Hà Nội, có vai trò quan trọng nối liền với các quận, huyện ngoại thành ở phía Tây bởi các tuyến đƣờng huyết mạch (Quốc lộ 32, Đại lộ Thăng Long), nối với sân bay Nội Bài và các quận, huyện phía bắc, phía nam bởi đƣờng vành đai 3. Cầu Giấy hiện có khoảng 13271 hộ kinh doanh cá thể, đã và đang có những đóng góp to lớn đối với sự phát triển kinh tế của quận.Trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, kinh tế hộ cá thể đang chiếm giữ tỷ trọng khá lớn.
Theo báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu Đảng 2 bộquận Cầu Giấy lần thứ V nhiệm kỳ 2010 – 2015 thì: kinh tế hộ cá thể chiếm tới 54,52% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ và chiếm 34,9% tổng giá trị sản xuất của quận. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, kinh tế hộ cá thể vẫn chƣa phát triển tƣơng xứng với tiềm năng của quận, mang tính tự phát, thiếu quy hoạch đồng bộ và gặp nhiều khó khăn cần đƣợc tháo gỡ, khắc phục. Vì vậy, với mong muốn nghiên cứu rõ hơn những cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế hộ cá thể, trên cơ sở đó đề ra những định hƣớng, giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy kinh tế hộ cá thể phát triển,tác giả lựa chọn đề tài: “Giải pháp phát triển kinh tế hộ cá thể trên địa bàn quận Cầu Giấy – thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành kinh tế phát triển. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 2.
Một số nghiên cứu liên quan (1) Mô ̣t số vấ n đ ề phát triển khu vực tƣ nhân (2014) – TS. Phạm Thị Thu Hằng – Diễn đàn kinh tế mùa thu 2014. Tác giả đã đề cập đến những vấn đề cần đặt ra đối với sự phát triển của khu vực tƣ nhân ở Việt Nam, bao gồm các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài nhà nƣớc và các hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp, cụ thể: - Chất lƣợng phát triển của khu vực kinh tế tƣ nhân chƣa bền vững: tỷ lệ doanh nghiệp ngừng hoạt động và giải thể cao; quy mô vốn trung bình giảm; tỷ lệ các doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ tiếp tục có xu hƣớng tăng lên; sự đa dạng ngành nghề kinh doanh chƣa theo kịp với sự phát triển chung của thế giới; hợp tác kinh doanh gắn kết với chuỗi cung ứng/mạng lƣới sản xuất khu vực và toàn cầu của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu. - Hiệu quả kinh doanh chƣa cao, tính phi chính thức chiếm ƣu thế: tính phi chính thức của khu vực tƣ nhân không có chiều hƣớng cải thiện, trong số 4,6 triệu hộ kinh doanh cá thể chỉ có 1,25 triệu hộ có đăng ký kinh doanh/mã số thuế chiếm 27%.
3 - Khả năng tự chủ và sức đề kháng yếu trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng gia tăng: các doanh nghiệp, các hộ thụ động trong cả khâu tìm kiếm thị trƣờng lẫn khai thác nguồn nguyên liệu tại chỗ, hay tìm kiếm các cơ hội thị trƣờng ở những khu vực khác. Mặt khác, năng suất lao động Việt Nam thấp dẫn đến tình trạng giá cả không cạnh tranh so với các sản phẩm từ Trung Quốc. - Những hạn chế do hệ thống thể chế (các khuôn khổ pháp lý, hệ thống các chính sách hỗ trợ): Nhà nƣớc đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ kinh tế tƣ nhân những khá tản mạn, chƣa giảm thiểu đƣợc những thủ tục nhất là thủ tục thuế khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh thƣờng bị thua thiệt hơn so với các doanh nghiệp lớn có mối quan hệ thân quen với chính quyền. Trên cơ sở đó tác giả đƣa ra một số kiến nghị phát triển kinh tế xã hội nhƣ: Kiên trì ổn định kinh tế vĩ mô, tạo lập môi trƣờng kinh doanh tự do, bình đẳng; Thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế một cách mạnh mẽ trên cơ sở tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nƣớc và thúc đẩy khu vực kinh tế tƣ nhân phát triển theo định hƣớng của Nhà nƣớc; Đẩy mạnh tiến trình ký kết TPP và thúc đẩy đổi mới công nghệ, liên kết kinh doanh theo các cụm công nghiệp hoặc theo chuỗi; Tăng cƣờng sự tham gia của các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp trong quá trình tham vấn và xây dựng chính sách thực hiện các dịch vụ công.
Hà Huy Thành (chủ biên) - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội. Tác giả đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về kinh tế cá thể, tiểu chủ và tƣ bản tƣ nhân, đƣa ra những nét đặc trƣng chủ yếu của thành phần kinh tế cá thể ở nƣớc ta, quy mô vốn, lao động, doanh thu nhìn chung là nhỏ bé. Sản xuất kinh doanh phần lớn chỉ dừng lại ở tái sản xuất giản đơn, khả năng tích lũy tái sản xuất mở rộng vƣơn lên chuyển đổi sang các loại hình doanh nghiệp có quy mô lớn hơn rất khó khăn. Đây không phải là loại hình kinh tế chủ yếu để làm giàu nhƣng lại cần thiết cho bƣớc quá độ sang nền kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta, nhất là trong việc giải quyết việc làm, huy động nguồn lực nhỏ bé, phân tán trong dân.
4 Tác giả đã tiến hành đánh giá, phân tích thực trạng phát triển khu vực kinh tế tƣ nhânở nƣớc ta trong thời kỳ đổi mới, rút ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những bất cập còn tồn tại nhƣ: (i) Luật pháp, chính sách, cơ chế quản lý vĩ mô của Nhà nƣớc vẫn chƣa hoàn toàn tạo lòng tin cho những hộ cá thể, doanh nghiệp tƣ bản tƣ nhân, nhất là doanh nghiệp có vốn lớn, có đầu óc kinh doanh, yên tâm làm ăn lâu dài. (ii) Thiếu một sự phối hợp giữa kinh tế nhà nƣớc với khu vực kinh tế tƣ nhân trong một kế hoạch phát triển có bài bản ở tầm chiến lƣợc. (iii) Cơ chế thƣơng mại, thể chế tài chính tín dụng, chính sách thuế và các tổ chức hỗ trợ thị trƣờng cho khu vực kinh tế tƣ nhân còn thiếu và yếu kém. Đồng thời trình bày những quan điểm, chính sách và đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tƣ nhân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
Các nhóm giải pháp và chính sách đƣợc phân chia thành: - Nhóm giải pháp liên quan đến môi trƣờng pháp lý và quản lý nhằm tạo điều kiện cho khu vực này hoạt động bình đẳng, tự do trong khuôn khổ cho phép của luật pháp. - Nhóm giải pháp liên quan đến các chính sách khuyến khích đầu tƣ phát triển, bao gồm các chinh sách có tác động đến hỗ trợ đầu vào: đất đai, nguồn vốn, nhân lực và các chính sách hỗ trợ đầu ra nhƣ: thuế, thị trƣờng… - Nhóm giải pháp liên quan đến các định chế đặc thù hỗ trợ khu vực đang cần đƣợc ƣu đãi khuyến khích để phát huy các nguồn lực trong dân. (3) Môi trƣờng kinh doanh của các hộ kinh doanh cá thể khu vực nông thôn Vĩnh Phúc và Bắc Ninh (2013) – NCS Phạm Ngọc Yến – Đại học Thái Nguyên. Luận án tiến sỹ đã tiến hành phân tích môi trƣờng kinh doanh cho hộ kinh doanh khu vực nông thôn tại hai tỉnh Vĩnh Phúc và Bắc Ninh thông qua phân tích các đặc điểm cấu thành nên môi trƣờng kinh doanh nhƣ khả năng tiếp cận đất đai, lao động, vốn, thị trƣờng đầu ra, chi phí không chính thức, cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh, tính minh bạch thông tin và sự hỗ trợ của chính quyền với các hộ kinh 5 doanh.
Kết quả cho thấy các hộ kinh doanh hiện nay còn gặp khá nhiều khó khăn về nguồn lực nhƣ khả năng vay vốn hạn chế, diện tích mặt bằng kinh doanh nhỏ hẹp và chất lƣợng lao động thấp. Thêm vào đó, biến động giá cả thị trƣờng và cơ sở hạ tầng hạn chế, nhất là điện và đƣờng giao thông, cũng gây ra nhiều khó khăn cho các hộ kinh doanh. Mặc dù chi phí không chính thức của các hộ kinh doanh không đáng kể nhƣng những hỗ trợ của chính quyền với các hộ này cũng không cao. Kết quả quan trọng nhất của nghiên cứu này là dựa trên những thông tin thu thập đƣợc, luận án đã tính đƣợc một bộ chỉ số nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh của môi trƣờng kinh doanh cho hai tỉnh Vĩnh Phúc và Bắc Ninh (FI),lựa chọn các yếu tố cấu thành của môi trƣờng kinh doanh sao cho phù hợp với đối tƣợng là các hộ kinh doanh.
Từ các nghiên cứu định tính tại địa bàn khảo sát và nghiên cứu định lƣợng, tác giả đã lựa chọn đƣợc các yếu tố xác đáng nhất cấu thành nên môi trƣờng kinh doanh của các hộ kinh doanh ở khu vực nông thôn hai tỉnh.