Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành du lịch được xác định là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỉnh Vĩnh Long nằm ở vị trí trung tâm vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đóng vai trò cầu nối giao thương và du lịch giữa Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Cần Thơ. Địa phương được thiên nhiên ưu đãi nguồn phù sa màu mỡ từ hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, tạo điều kiện hình thành các vùng chuyên canh cây ăn trái và hệ sinh thái miệt vườn đặc trưng. Bên cạnh đó, Vĩnh Long có nền văn hóa đa dạng nhờ sự giao thoa của ba cộng đồng dân tộc Kinh, Hoa và Khmer cùng hệ thống di tích lịch sử - văn hóa phong phú.
Tuy nhiên, sự bùng phát của đại dịch Covid-19 từ cuối năm 2019 đã làm gián đoạn chuỗi cung ứng dịch vụ và làm ngưng trệ toàn diện hoạt động du lịch toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Ngành du lịch tỉnh Vĩnh Long rơi vào tình trạng đình trệ nghiêm trọng trong hai năm 2020 và 2021, lượng du khách và doanh thu sụt giảm sâu, cơ sở vật chất hư hao và nguồn nhân lực bị phân tán. Xuất phát từ thực trạng đó, khóa luận tốt nghiệp ngành Việt Nam học của tác giả Lê Hiệp Hà (Trường Đại học Sư phạm TP.HCM) đã thực hiện đề tài "Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Long giai đoạn hậu Covid-19" nhằm nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phục hồi du lịch địa phương thích ứng với điều kiện bình thường mới.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Mục tiêu chung: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch trong bối cảnh dịch bệnh; phân tích tiềm năng và thực trạng du lịch tỉnh Vĩnh Long ở các giai đoạn trước và trong đại dịch Covid-19; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phục hồi và phát triển du lịch địa phương theo hướng bền vững trong giai đoạn hậu Covid-19.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến du lịch, phát triển du lịch và đại dịch Covid-19.
- Phân tích thực trạng du lịch tại tỉnh Vĩnh Long dưới tác động của đại dịch Covid-19 (giai đoạn 2020 - 2021) so với giai đoạn tăng trưởng trước dịch (2010 - 2019).
- Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm khôi phục và phát triển ngành du lịch Vĩnh Long giai đoạn hậu Covid-19.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tình hình phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long; các tác động của dịch bệnh đến hoạt động kinh doanh, điểm đến, cơ sở hạ tầng và lao động; các giải pháp phục hồi du lịch giai đoạn hậu Covid-19.
- Phạm vi nội dung: Khảo sát các chỉ tiêu phát triển du lịch (lượng khách, doanh thu, cơ sở vật chất, lao động) và phân tích tác động trực tiếp của đại dịch Covid-19.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Vĩnh Long, tập trung khảo sát sâu tại Cù lao An Bình (huyện Long Hồ) cùng các điểm du lịch và cụm tuyến liên quan.
- Phạm vi thời gian: Nguồn số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2021; các định hướng và giải pháp đề xuất áp dụng từ năm 2022 trở đi.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận về kinh tế du lịch, khoa học khu vực học và quản lý điểm đến, kết hợp với các văn bản pháp quy hiện hành:
- Khung khái niệm và văn bản quy phạm: Sử dụng các định nghĩa về du lịch của UNWTO, Glusman (1930), IUOTO, Hội nghị Roma (1963), I Pirogionic (1985), Hội nghị Ottawa (1991) và Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 (Điều 3, Chương 1). Khái niệm du lịch bền vững được đối chiếu theo IUCN (1996), WTO, UNCED (1992 tại Rio de Janeiro), UNWTO, Machado (2003) và Luật Du lịch 2017. Khái niệm sản phẩm du lịch được tham chiếu theo Luật Du lịch 2005 và Luật Du lịch 2017.
- Cơ sở y tế - dịch tễ về Covid-19: Tổng hợp đặc tính sinh học của virus SARS-CoV-2 (thuộc bộ Nidovirales, họ Coronaviridae, phân họ Coronavirinae, kích thước bộ gen 26 - 32 kilobase pair, cấu trúc protein S, N, M, E), đường lây truyền qua giọt bắn, khí dung và tiếp xúc bề mặt. Tổng hợp danh mục 8 loại vắc xin phòng Covid-19 được Bộ Y tế Việt Nam cấp phép (AstraZeneca, Vero Cell, Spikevax/Moderna, Hayat-Vax, Gam-COVID-Vac/SPUTNIK V, Comirnaty/Pfizer-BioNTech, Janssen, Abdala) và hướng dẫn phòng dịch theo Thông điệp 5K.
- Quan điểm tiếp cận: Vận dụng 5 quan điểm nghiên cứu liên ngành: Quan điểm hệ thống, Quan điểm lịch sử - viễn cảnh, Quan điểm lãnh thổ, Quan điểm tổng hợp và Quan điểm phát triển bền vững.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể đã triển khai:
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Thu thập nguồn số liệu thứ cấp từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) tỉnh Vĩnh Long, Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Long, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Vĩnh Long, cùng các báo cáo chuyên ngành.
- Phương pháp thống kê, phân tích - tổng hợp: Xử lý chuỗi dữ liệu định lượng về lượng khách du lịch quốc tế, khách nội địa, doanh thu và tỷ trọng đóng góp GRDP của ngành du lịch Vĩnh Long từ 2010 đến 2021.
- Phương pháp điền dã thực tế: Tiến hành khảo sát trực tiếp cảnh quan, cơ sở hạ tầng, hoạt động homestay và nhà vườn tại địa bàn Cù lao An Bình (huyện Long Hồ).
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Xây dựng phiếu khảo sát gồm 10 câu hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức độ. Khảo sát được thực hiện trên cỡ mẫu ngẫu nhiên $N = 122$ người tham gia vào chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch tại Cù lao An Bình.
- Phương pháp bản đồ, biểu đồ: Xây dựng bản đồ hành chính, biểu đồ tốc độ tăng trưởng lượng khách và doanh thu nhằm mô hình hóa diễn biến phát triển của du lịch địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận về du lịch và dịch Covid-19
Chương này tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch, vai trò của du lịch đối với ba khía cạnh kinh tế, xã hội và sinh thái; đồng thời phân biệt các loại hình du lịch phổ biến như du lịch sinh thái, du lịch văn hóa và du lịch cộng đồng. Tác giả phân tích cấu trúc sản phẩm du lịch theo tiêu chuẩn của UNWTO (gồm kết cấu hạ tầng, tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ, lao động và quản lý) và quy định của pháp luật Việt Nam.
Phần thứ hai của chương làm rõ bối cảnh dịch bệnh Covid-19, đường lây truyền và các biến thể cần theo dõi (Alpha, Beta, Gamma, Delta, Epsilon, Omicron). Tác giả cập nhật số liệu dịch tễ toàn cầu và Việt Nam tính đến ngày 10/03/2022 (toàn cầu ghi nhận trên 453,9 triệu ca nhiễm và 6,19 triệu ca tử vong; Việt Nam ghi nhận 5.495.000 ca nhiễm, 41.157 ca tử vong và tỷ lệ tiêm đủ liều vắc xin đạt 78,97%). Khóa luận xác định bối cảnh "hậu Covid-19" đối với lĩnh vực kinh tế - du lịch là giai đoạn các hoạt động kinh tế được mở cửa trở lại sau khi kiểm soát tốt dịch bệnh thông qua bao phủ vắc xin, đánh dấu bằng mốc Việt Nam chính thức mở cửa lại hoạt động du lịch từ ngày 15/03/2022.
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Long
Chương 2 trình bày tổng quan điều kiện địa lý tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long: diện tích tự nhiên 1.504,9 $km^2$, địa hình trầm tích biển Đệ tứ dạng lòng chảo (cao độ 0,75 - 1 m so với mực nước biển), hệ thống sông ngòi dày đặc với gần 100 sông rạch kết nối sông Tiền và sông Hậu, đất phèn (>50%), đất phù sa (>30%) và đất sét phục vụ sản xuất gốm đỏ tại Mang Thít. Dân số năm 2021 đạt hơn 1 triệu người (mật độ 688 người/$km^2$), 70% dân số sống ở nông thôn. Tăng trưởng GRDP năm 2019 đạt 6,17%, GRDP bình quân đầu người đạt 44,8 triệu đồng.
Tác giả phân tích diễn biến phát triển du lịch qua hai giai đoạn tương phản:
- Giai đoạn tăng trưởng 2010 - 2019: Lượng khách tăng từ 665.000 lượt (2010) lên 1.500.000 lượt (2019), đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 10,4%/năm. Khách nội địa chiếm tỷ trọng lớn nhất, tăng từ 785.000 lượt (2016) lên 1.285.000 lượt (2019). Khách quốc tế tăng từ 170.000 lượt (2010) lên 215.000 lượt (2019). Doanh thu du lịch tăng từ 120 tỷ đồng (2010) lên 525 tỷ đồng (2019), đạt mức tăng bình quân 16%/năm. Hệ thống cơ sở hạ tầng được đầu tư với hơn 100 cơ sở lưu trú (1.575 phòng; gồm 1 khách sạn 4 sao Sài Gòn - Vĩnh Long, 5 khách sạn 3 sao, hơn 27 homestay); các khu - điểm du lịch (Trường An, Trường Huy, Vinh Sang, Hoàng Hảo, Nhà Xưa); bến tàu du lịch TP. Vĩnh Long (vốn đầu tư gần 12,75 tỷ đồng, công suất phục vụ 100.000 khách/năm); quy hoạch 5 khu du lịch với tổng vốn 890 tỷ đồng và 3 dự án ngoài ngân sách quy mô 32 ha (420 tỷ đồng).
- Tác động tiêu cực của Covid-19 (2020 - 2021): Năm 2020, lượng khách giảm xuống còn 665.000 lượt (giảm 55%), doanh thu đạt 190 tỷ đồng (giảm 63,8% so với 2019). Trong 6 tháng đầu năm 2021, du lịch tạm phục hồi với 360.000 lượt khách và hơn 150 tỷ đồng doanh thu. Tuy nhiên, đợt dịch thứ 4 bùng phát khiến hoạt động 6 tháng cuối năm 2021 bị đóng băng hoàn toàn. Cả năm 2021, tổng lượng khách chỉ đạt 397.000 lượt (giảm 40% so với 2020 và giảm 73,5% so với 2019; khách quốc tế chỉ đạt 1.886 lượt), tổng doanh thu đạt 186 tỷ đồng (đạt 64,1% kế hoạch năm). Tỷ trọng đóng góp của du lịch vào GRDP tỉnh giảm xuống dưới 1%. Lực lượng lao động du lịch giảm từ gần 1.500 người xuống còn hơn 700 người.
Khảo sát thực nghiệm của tác giả trên $N = 122$ mẫu lao động tại Cù lao An Bình ghi nhận cơ cấu đối tượng:
- Lao động tại các cơ sở, công ty du lịch: 56 mẫu (45,9%)
- Hướng dẫn viên: 40 mẫu (32,8%)
- Chủ quản cơ sở du lịch, KDL: 14 mẫu (11,4%)
- Nghệ nhân làng nghề: 4 mẫu (3,3%)
- Hộ kinh doanh hàng lưu niệm: 4 mẫu (3,3%)
- Tài công vận chuyển: 4 mẫu (3,3%)
Kết quả khảo sát cho thấy 100% hướng dẫn viên và nhân viên doanh nghiệp du lịch bị suy giảm thu nhập (trong đó 65% - 75% có thu nhập dưới 5 triệu đồng/tháng trong mùa dịch). 83% hướng dẫn viên phải chuyển sang làm việc phụ (20% bán hàng online, 15% làm nhân viên văn phòng, 12% làm kinh doanh bảo hiểm/bất động sản). Tuy nhiên, 70% mong muốn và 30% rất mong muốn tiếp tục làm việc trong ngành du lịch khi thị trường phục hồi.
Chương 3: Giải pháp phát triển du lịch giai đoạn hậu Covid-19 tại tỉnh Vĩnh Long
Trên cơ sở phân tích điểm mạnh, điểm yếu và các chủ trương khôi phục kinh tế (tiêu biểu là Chương trình kích cầu "Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam" theo Kế hoạch số 1749 của Bộ VHTT&DL năm 2020), chương 3 đề xuất 8 nhóm giải pháp phát triển du lịch Vĩnh Long:
- Tập trung hỗ trợ giải quyết khó khăn cho người lao động và các cơ sở, doanh nghiệp du lịch: Đơn giản hóa thủ tục tiếp cận các gói hỗ trợ tài chính, giãn nợ, giảm thuế và tạo cơ chế giữ chân lực lượng lao động chuyên môn cao.
- Đẩy nhanh kế hoạch tiêm chủng vắc xin cho người dân, tuân thủ nghiêm các biện pháp phòng chống dịch: Đảm bảo độ phủ vắc xin mũi tăng cường cho người dân và người lao động trong ngành du lịch, thực hiện Bộ tiêu chí an toàn phòng chống dịch tại các cơ sở lưu trú và điểm tham quan.
- Xây dựng sản phẩm du lịch mang tính đặc thù có tính cạnh tranh cao: Tập trung phát triển và hoàn thiện các sản phẩm mới có thương hiệu như Nhà Dừa Vĩnh Long, mô hình Nhà gốm Tư Buôi kết hợp trải nghiệm làng nghề gạch gốm Mang Thít ("Vương quốc đỏ"), chương trình biểu diễn nghệ thuật hát bội, du lịch sinh thái miệt vườn Cù lao An Bình.
- Tập trung đánh mạnh vào thị trường khách du lịch nội địa: Đẩy mạnh khai thác phân khúc khách du lịch nội vùng ĐBSCL và nguồn khách từ TP.HCM trong giai đoạn thị trường quốc tế chưa phục hồi hoàn toàn; xây dựng các gói tour ngắn ngày, du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần.
- Định hướng liên kết ngành, vùng, khu vực và thế giới: Xây dựng các chuỗi tour khép kín giữa 5 cụm du lịch nội tỉnh (Cụm TP. Vĩnh Long, Cụm Mang Thít - Vũng Liêm, Cụm Bình Minh - Bình Tân, Cụm Trà Ôn - Tam Bình, Cụm 4 xã cù lao Long Hồ gồm An Bình, Bình Hòa Phước, Hòa Ninh, Đồng Phú); tăng cường liên kết tuyến du lịch với TP.HCM, Cần Thơ, Bến Tre và Trà Vinh.
- Đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá du lịch, chú trọng ứng dụng khoa học công nghệ: Tăng cường số hóa dữ liệu du lịch, quảng bá qua các kênh mạng xã hội, ứng dụng công nghệ thông tin trong xúc tiến và kết nối trực tuyến với các đơn vị lữ hành lớn.
- Chính sách đầu tư nguồn vốn đi kèm với phát triển du lịch bền vững: Đẩy nhanh tiến độ các dự án du lịch trọng điểm (KDL sinh thái Đồng Phú, KDL sinh thái Lục Sĩ Thành, KDL sinh thái Quới Thiện), xúc tiến Đề án Bảo tàng Nông nghiệp vùng ĐBSCL (đã phê duyệt ngày 11/05/2020); gắn khai thác kinh tế với bảo vệ hệ sinh thái sông nước và giữ gìn văn hóa bản địa.
- Đào tạo nguồn lao động chất lượng cao, trang bị cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch: Tổ chức các khóa đào tạo lại kỹ năng nghiệp vụ, bồi dưỡng ngoại ngữ cho đội ngũ hướng dẫn viên, nhân viên cơ sở lưu trú và tài công; hoàn thiện hạ tầng giao thông đường bộ và đường thủy (đẩy nhanh tiến độ dự án cầu Đình Khao kết nối Vĩnh Long - Bến Tre, chuẩn hóa hệ thống bến tàu thủy nội địa).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp hệ thống chỉ tiêu định lượng phản ánh biến động phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Long trong giai đoạn 2010 - 2021 qua bảng số liệu sau:
| Năm |
Tổng lượt khách (Lượt) |
Khách quốc tế (Lượt) |
Khách nội địa (Lượt) |
Doanh thu du lịch (Tỷ đồng) |
Ghi chú diễn biến |
| 2010 |
665.000 |
170.000 |
495.000 |
120 |
Giai đoạn đầu quy hoạch phát triển |
| 2015 |
960.000 |
185.000 |
775.000 |
210 |
Tăng trưởng ổn định |
| 2016 |
1.150.000 |
190.000 |
785.000 |
280 |
Bắt đầu chu kỳ tăng trưởng mạnh |
| 2019 |
1.500.000 |
215.000 |
1.285.000 |
525 |
Đạt đỉnh cao nhất trước dịch |
| 2020 |
665.000 |
25.000 |
640.000 |
190 |
Giảm 55% lượng khách do dịch Covid-19 |
| 2021 |
397.000 |
1.886 |
395.114 |
186 |
Đóng băng nửa cuối năm do đợt dịch thứ 4 |
Những đóng góp cụ thể của khóa luận:
- Cung cấp dữ liệu thực nghiệm sơ cấp: Khóa luận đóng góp bộ dữ liệu điều tra $N = 122$ phản ánh chính xác tác động của đại dịch Covid-19 đến nguồn nhân lực và các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch tại Cù lao An Bình, chỉ ra thực trạng đứt gãy việc làm, mức suy giảm thu nhập và xu hướng chuyển dịch lao động tạm thời trong mùa dịch.
- Đánh giá toàn diện bức tranh du lịch địa phương: Khóa luận hệ thống hóa các chỉ số tăng trưởng du lịch Vĩnh Long trong chuỗi thời gian 12 năm (2010 - 2021), làm rõ thế mạnh về vị trí trung tâm, hệ thống cù lao, làng nghề truyền thống và các điểm nghẽn về hạ tầng, sản phẩm đại trà và nhân lực chất lượng cao.
- Xây dựng hệ thống giải pháp ứng dụng: Đề xuất khung 8 giải pháp khôi phục du lịch có tính thực tiễn, phân định rõ các định hướng ưu tiên ngắn hạn (hỗ trợ lao động, kích cầu khách nội địa, phòng dịch an toàn) và chiến lược dài hạn (liên kết 5 cụm du lịch, chuyển đổi số, đầu tư sản phẩm đặc thù gốm đỏ Mang Thít và Bảo tàng Nông nghiệp ĐBSCL).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Tác giả tự nhìn nhận khả năng phân tích, lập luận học thuật còn những giới hạn nhất định. Về phạm vi khảo sát, việc điều tra bảng hỏi thực tế chỉ mới tập trung thu thập dữ liệu tại địa bàn Cù lao An Bình (huyện Long Hồ) với dung lượng mẫu $N = 122$, chưa mở rộng khảo sát điều tra xã hội học sang các huyện, thị xã khác trong tỉnh (như Mang Thít, Trà Ôn, Vũng Liêm, Bình Minh). Bên cạnh đó, số liệu năm 2021 chủ yếu phản ánh giai đoạn đỉnh điểm của giãn cách xã hội, chưa phản ánh đầy đủ chu kỳ phục hồi khi du lịch mở cửa toàn diện sau tháng 3/2022.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát điều tra thực nghiệm trên toàn bộ 5 cụm du lịch của tỉnh; tiến hành các nghiên cứu định lượng chuyên sâu về hành vi và nhu cầu thay đổi của du khách nội địa trong điều kiện bình thường mới; đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội thực tế sau khi triển khai các mô hình du lịch đặc thù (Nhà Dừa, Nhà gốm Tư Buôi, không gian di sản đương đại Mang Thít).
Giá trị tham khảo
- Đối với người học và nhà nghiên cứu: Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên các ngành Việt Nam học, Địa lý Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Kinh tế phát triển khi nghiên cứu về kinh tế du lịch ĐBSCL hoặc thực hiện các đề tài về quản trị rủi ro và giải pháp phục hồi ngành du lịch sau khủng hoảng dịch bệnh.
- Đối với cơ quan quản lý và doanh nghiệp: Báo cáo cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho Sở VHTT&DL tỉnh Vĩnh Long, Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch tỉnh, UBND các huyện/thị xã trong việc hoạch định chính sách kích cầu, liên kết vùng và xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương.
- Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất: Chương 2 (chuỗi số liệu thống kê du lịch 2010 - 2021 và kết quả khảo sát 122 lao động du lịch tại Cù lao An Bình) và Chương 3 (phân chia 5 cụm du lịch nội tỉnh và 8 nhóm giải pháp phục hồi du lịch).
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng quy mô mẫu khảo sát thực tế là bao nhiêu và tiến hành ở địa bàn nào?
Tác giả đã triển khai khảo sát bằng bảng hỏi với dung lượng mẫu ngẫu nhiên $N = 122$ người (sử dụng thang đo Likert 5 mức độ với 10 câu hỏi), được thực hiện thực địa tại Cù lao An Bình, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Cơ cấu mẫu gồm: 56 nhân viên làm việc tại các công ty/cơ sở du lịch (45,9%), 40 hướng dẫn viên (32,8%), 14 chủ cơ sở/KDL (11,4%), 4 nghệ nhân làng nghề (3,3%), 4 hộ kinh doanh hàng lưu niệm (3,3%) và 4 tài công (3,3%).
2. Lượng khách và doanh thu du lịch tỉnh Vĩnh Long năm 2020 và 2021 sụt giảm như thế nào so với năm đỉnh cao 2019?
Năm 2019, Vĩnh Long đạt 1,5 triệu lượt khách và doanh thu 525 tỷ đồng. Bước sang năm 2020, lượng khách giảm xuống còn 665.000 lượt (giảm 55%), doanh thu đạt 190 tỷ đồng (giảm 63,8%). Đến năm 2021, do đợt bùng phát dịch thứ 4, lượng khách tiếp tục giảm sâu xuống còn 397.000 lượt (giảm 73,5% so với 2019; khách quốc tế chỉ còn 1.886 lượt), tổng doanh thu đạt 186 tỷ đồng (chỉ đạt 64,1% kế hoạch năm). Tỷ trọng đóng góp của ngành du lịch vào GRDP tỉnh giảm xuống dưới mức 1%.
3. Kết quả khảo sát chỉ ra mức độ ảnh hưởng của dịch bệnh đến thu nhập và việc làm của đội ngũ hướng dẫn viên du lịch tại Vĩnh Long ra sao?
Kết quả khảo sát trên 40 hướng dẫn viên cho thấy: 75% đánh giá dịch bệnh ảnh hưởng rất nặng đến công việc và 100% bị ảnh hưởng về thu nhập (65% có thu nhập dưới 5 triệu đồng/tháng). 83% hướng dẫn viên phải tìm thêm công việc phụ để sinh sống (trong đó 20% bán hàng online, 15% làm nhân viên văn phòng, trên 12% làm nhân viên kinh doanh bất động sản, bảo hiểm). Tuy nhiên, có 70% mong muốn và 30% rất mong muốn tiếp tục quay lại làm nghề hướng dẫn viên sau khi du lịch phục hồi.
4. Khóa luận phân chia không gian phát triển du lịch Vĩnh Long thành những cụm du lịch cụ thể nào?
Khóa luận xác định 5 cụm du lịch trọng điểm để tập trung đầu tư và hình thành chuỗi liên kết:
- Cụm du lịch Thành phố Vĩnh Long;
- Cụm du lịch Mang Thít – Vũng Liêm;
- Cụm du lịch Bình Minh – Bình Tân;
- Cụm du lịch Trà Ôn – Tam Bình;
- Cụm du lịch 4 xã cù lao thuộc huyện Long Hồ (gồm các xã An Bình, Bình Hòa Phước, Hòa Ninh, Đồng Phú).
5. Những sản phẩm du lịch mới, mang tính đặc thù nào của Vĩnh Long được đề xuất khai thác trong khóa luận?
Tác giả nhấn mạnh việc quảng bá và hoàn thiện các sản phẩm đặc thù có tính cạnh tranh gồm: Điểm du lịch đạt chuẩn cấp tỉnh Nhà Dừa Vĩnh Long; mô hình Nhà gốm Tư Buôi (kết hợp kiến trúc nhà gốm với trải nghiệm làng nghề gốm ngói Mang Thít); chương trình biểu diễn nghệ thuật hát bội; các tour trải nghiệm sinh thái miệt vườn Cù lao An Bình và dự án Bảo tàng Nông nghiệp vùng ĐBSCL.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Hiệp Hà đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý thuyết và thực tiễn phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Long trong giai đoạn trước và dưới tác động nghiêm trọng của đại dịch Covid-19 (2010 - 2021). Bằng việc kết hợp dữ liệu thống kê hành chính với kết quả khảo sát thực địa 122 đối tượng lao động tại Cù lao An Bình, công trình đã lượng hóa rõ nét sự suy giảm của ngành du lịch địa phương về doanh thu, lượt khách và nguồn nhân lực. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng hệ thống 8 nhóm giải pháp mang tính ứng dụng cao nhằm định hướng phục hồi thị trường du lịch nội địa, nâng cao chất lượng sản phẩm đặc thù và thúc đẩy liên kết vùng bền vững trong giai đoạn bình thường mới.