Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn khả năng thích ứng của các doanh nghiệp du lịch Chương 2: Phân tích và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thích ứng của doanh nghiệp du lịch đối với Covid -19 trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao khả năng thích ứng của doanh nghiệp du lịch đối với Covid -19 tại tỉnh Thừa Thiên Huế Phần III: Kết luận và kiến nghị SVTH: guyễn Thị Diệu Vân 8 Khóa Luận Tốt ghiệp GVHD: PGS. guyễn Thị Minh Hòa PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ LUẬ VÀ THỰC TIỄ KHẢ Ă G THÍCH Ứ G CỦA CÁC DOA H GHIỆP DU LNCH 1.1 Cơ sở lý luận về khả năng thích ứng của doanh nghiệp 1.1 Các khái niệm liên quan 1.1 Khủng hoảng, rủi ro a) Khủng hoảng Trong học thuyết Kinh tế chính trị của Mác – Lênin, Karl Marx đã đưa ra đến cho người đọc về khái niệm của khủng hoảng kinh tế như sau: “Khủng hoảng kinh tế là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng hơn cả suy thoái trong chu kì kinh tế”. Theo ông Jonathan Bernstein, một chuyên gia xử lý khủng hoảng Mỹ: “Khủng hoảng là tình thế đe dọa nghiêm trọng tới uy tín, làm gián đoạn nghiêm trọng công việc hoặc hoạt động kinh doanh, ảnh hưởng tiêu cực tới giá trị cổ phiếu.” Khủng hoảng là nhận thức về một sự kiện không thể đoán trước đe dọa đến kỳ vọng quan trọng của các bên liên quan liên quan đến các vấn đề sức khỏe, an toàn, môi trường và kinh tế, đồng thời có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của tổ chức và tạo ra kết quả tiêu cực. Một công ty của Mỹ khác thì định nghĩa khủng hoảng là “một sự kiện đặc biệt hoặc một loạt các sự kiện có ảnh hưởng xấu đến tính toàn vẹn của sản phNm, danh tiếng và sự ổn định tài chính của tổ chức, hay sức khỏe hoặc phúc lợi của nhân viên, cộng đồng hoặc công chúng ở quy mô lớn.
” Theo Harvard Business Review, “Khủng hoảng là một tình huống đã đạt đến giai đoạn quan trọng mà cần phải có sự can thiệp mạnh mẽ và đặc biệt để tránh hoặc sửa chữa thiệt hại lớn” (Seitel, 2011). SVTH: guyễn Thị Diệu Vân 9 Khóa Luận Tốt ghiệp GVHD: PGS. guyễn Thị Minh Hòa N ói tóm lại, khủng hoảng là các sự kiện quan trọng xảy ra đối với một tổ chức hay doanh nghiệp, thường sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thương hiệu, danh tiếng và tài chính của doanh nghiệp, tổ chức. b) Rủi ro Rủi ro có rất nhiều định nghĩa khác nhau và vẫn chưa có định nghĩa thống nhất, chia làm 2 quan điểm: Quan điểm truyền thống và quan điểm hiện đại.
Rủi ro theo quan điểm truyền thống: Khái niệm rủi ro theo quan điểm này thường được hiểu là một trạng thái ngẫu nhiên, ngoài tầm kiểm soát của chủ thể và mang tính tiêu cực, gắn liền với những kết quả xấu, những thiệt hại, tổn thất về người và tài sản, gây bất lợi cho chủ thể. “Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến”(Theo Từ điển Tiếng Việt do Trung tâm từ điển học Hà N ội xuất bản năm 1995) “Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn xảy ra cho con người”(Đoàn Thị Hồng Vân – Quản trị rủi ro và khủng hoảng – 2009). Rủi ro theo quan điểm hiện đại: Ở quan điểm này, rủi ro không chỉ là những điều gây bất lời cho chủ thể, nó bao hàm cả những kết quả ngoài dự tính của con người, có thể gây thiệt hại hay mang lại lợi ích cho chủ thể. “Rủi ro là những biến cố không thể đoán trước được”(Theo tác giả Doherty trong tập Corporate Risk Management) “Rủi ro là những bất trắc có thể đo lường được”(Frank Knight – Học giả người Mỹ) “Rủi ro là hoàn cảnh trong đó một sự kiện xảy ra với một xác suất nhất định hoặc trong trường hợp quy mô của sự kiện đó có một phần phân phối xác suất”(Theo từ điển kinh tế học hiện đại).2 Thích ứng Theo từ điển tiếng Việt, cụm từ “thích ứng” là những biến đổi nhất định phù hợp với hoàn cảnh, môi trường mới.
SVTH: guyễn Thị Diệu Vân 10 Khóa Luận Tốt ghiệp GVHD: PGS. guyễn Thị Minh Hòa Theo tác giả Đào Thị Oanh(2008), tâm lý học lao động viết: Sự thích ứng là khả năng thay đổi “từng bước” của hệ thống mà không xảy ra trục trặc gì nhờ vào sự thay đổi trong nội tại của con người. “Thích ứng là hành động phản ứng lại ngoại cảnh mà bạn cần đưa ra ở thời điểm quyết định để đem lại kết quả hay thành công” (Max McKeown, 2019) 1.3 Khả năng thích ứng Khả năng thích ứng là một từ được sử dụng như một thuật ngữ chuyên ngành trong các lĩnh vực khác nhau, trong đó có hoạt động kinh doanh. Các định nghĩa khả năng thích ứng có sự khác nhau khi sử dụng ở các lĩnh vực khác nhau.
Để thích ứng, một công ty phải điều chỉnh ăng-ten của mình để bắt kịp các tín hiệu thay đổi từ môi trường bên ngoài, giải mã chúng và nhanh chóng hành động để tinh chỉnh hoặc phát minh lại mô hình kinh doanh và thậm chí định hình lại bối cảnh thông tin trong ngành của mình(Harvard Business Review, 2011) “Khả năng thích ứng có thể được coi là khả năng thay đổi điều gì đó hoặc bản thân để phù hợp với những thay đổi đang xảy ra”( Theo Andresen và Gronau, 2005 – Định nghĩa trong lĩnh vực quản lý tổ chức) “Khả năng thích ứng có thể được định nghĩa là khả năng của một công ty trong việc xác định và tận dụng thị trường mới nổi và cơ hội công nghệ (Chakravarthy, 1992), đến lượt nó, ngụ ý những thay đổi trong thế trận chiến lược (Oktemgil và Greenley, 1997)”.2 Khả năng thích ứng của doanh nghiệp Khả năng thích ứng của doanh nghiệp là khả năng hòa nhập, thích nghi nhanh chóng với sự thay đổi của môi trường, có sự linh hoạt về tất cả các khía cạnh từ nhân sự, vận hành tổ chức, văn hóa tổ chức, tài chính, chuỗi cung, sales & marketing và một cái rất quan trọng là công nghệ. Các nghiên cứu cho thấy rõ ràng rằng, trong một thị trường phức tạp và đầy biến động môi trường, khả năng thích ứng là một trong những điều kiện tiên quyết quan trọng để hoạt động kinh doanh tốt (Oktemgil và Greenley, 1997). SVTH: guyễn Thị Diệu Vân 11 Khóa Luận Tốt ghiệp GVHD: PGS. guyễn Thị Minh Hòa Một số học giả (ví dụ, Child, 1997) đã thừa nhận rằng khả năng thích ứng là một cấu trúc của thị trường, công nghệ, và các yếu tố liên quan đến tổ chức.
Để hiểu rõ về khả năng thích ứng, cần phải giải quyết được cả ba khía cạnh đan xen của cấu trúc (công nghệ, thị trường và thiết kế tổ chức) đồng thời.3 Dịch bệnh Covid-19 COVID-19 (từ tiếng Anh: coronavirus disease 2019) nghĩa là bệnh virus corona 2019) là một bệnh đường hô hấp cấp tính truyền nhiễm gây ra bởi chủng virus corona SARS-CoV-2 và các biến thể của nó. Đây là một loại virus được phát hiện điều tra ổ dịch bắt nguồn từ khu chợ lớn chuyên bán hải sản và động vật ở Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Virus gây viêm đường hô hấp cấp ở người và cho thấy có sự lây lan từ người sang người. N goài chủng virus corona mới phát hiện này, đã có 6 chủng virus corona khác được biết tới ngày nay có khả năng lây nhiễm ở người sang người.
Bệnh được phát hiện lần đầu tiên trong đại dịch COVID-19 năm 2019–2020. Phương thức lây truyền chủ yếu của nó hiện nay là lây truyền từ người sang người, thường được truyền thông qua các giọt dịch hô hấp mà con người hắt hơi, ho hoặc thở ra. Một người nhiễm bệnh có thể xuất hiện các triệu chứng sau thời gian ủ bệnh kéo dài từ 2 đến 14 ngày, trung bình là 5 ngày, trong thời gian đó nó vẫn có thể truyền nhiễm. Vào ngày 11 tháng 3 năm 2020, WHO tuyên bố COVID-19 là "đại dịch toàn cầu", trước bối cảnh số ca nhiễm trên toàn cầu đã vượt mốc 126.000 và dịch đã lan ra 123 quốc gia và vùng lãnh thổ.
SVTH: guyễn Thị Diệu Vân 12 Khóa Luận Tốt ghiệp GVHD: PGS. guyễn Thị Minh Hòa Hình 1.1: Các triệu chứng của bệnh hô hấp cấp COVID-19 (Sguồn: https://vi.org/wiki/COVID-19) Tuy nhiên, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC), 25% số người bệnh có thể không có triệu chứng gì hoặc triệu chứng không rõ ràng. Để ngăn ngừa nhiễm virus, WHO khuyến cáo:"rửa tay thường xuyên, che miệng và mũi khi ho và hắt hơi và giữ khoảng cách ít nhất là 2 mét (6,56 feet) với bất kỳ ai có triệu chứng bệnh hô hấp như ho và hắt hơi, tránh đưa tay chạm mắt, mũi, miệng khi tay chưa rửa sạch. N ếu bản thân có biểu hiện sốt, ho hay khó thở, nên ở nhà và tìm kiếm trợ giúp y tế ngay lập tức bằng cách gọi trước cho bác sĩ hay trung tâm y tế, tuân thủ chỉ dẫn của chính quyền địa phương.
Luôn cập nhật thông tin về dịch bệnh và tuân theo các hướng dẫn của nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe". Dịch bệnh COVID-19 gây ảnh hưởng nặng nề đến các quốc gia trên Thế giới. Ở Việt N am, virus đã đe dọa đến nhiều ngành nghề, gây hậu quả nghiêm trọng đến du lịch, công thương nghiệp, tăng trưởng kinh tế trong năm 2020 chỉ đạt khoảng 1,5%, mức tăng chậm nhất trong 35 năm qua. Tính đến thời điểm hiện tại, trên toàn thế giới đã có 649 triệu ca nhiễm, trong đó có 6,65 triệu ca tử vong.4 Ảnh hưởng của Covid-19 đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp SVTH: guyễn Thị Diệu Vân 13 Khóa Luận Tốt ghiệp GVHD: PGS.
guyễn Thị Minh Hòa Dịch bệnh Covid-19 xảy ra gây ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiêp chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 ở những khía cạnh có thể kể đến bao gồm(N guyễn Thành Hiếu & Cộng sự, 2020): - “Đứt gãy” nguồn cung: Khi dịch bệnh xảy ra, hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp gần như đình trệ vì thiếu hụt nguyên liệu. Các doanh nghiệp không có kế hoạch dự phòng, không có thời gian để tìm nguồn cung thay thế. Vì vậy, tình trạng đứt gãy nguồn cung xảy ra.
Việc thiếu hụt nguyên vật liệu dẫn đến giá nguyên vật liệu tăng, kéo theo giá thành tăng.