mở đầu và kết thúc) trong nghiên cứu địa lí. Phương pháp bản đồ được sử dụng vừa là nguồn thông tin đầu vào, vừa là phương tiện thẻ hiện kết quả nghiên cứu. Dé dam bảo tính trực quan, việc hệ thống hóa các nội dung nghiên cứu bằng bản đồ sẽ đem lại hiệu quả tôi wu. Trong luận án tôi sử dụng phần mềm Mapinfo 10.0 trên cơ sở nguồn dit liệu bản đồ kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2016-2020 tỉnh Tiền Giang dé xây dựng một số bản đồ như: Bản đồ hành chính tinh Tiền Giang, ban đồ phân bố tài nguyên du lịch sinh thái miệt vườn, bản dé tuyến điểm du lịch sinh thái miệt vườn,.
Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5. Trên thế giới s* Nghiên cứu về lý luận Trong những thập kỷ 60, 70 và 80, du lịch đại trà (mass tourism) từng chiếm ưu thé, nhưng hiện tại, các loại hình du lịch thay thé (alternative tourism) như du lịch sinh thái, du lich văn hóa, du lịch giáo dục, du lịch nghiên cứu khoa học, du lịch mạo hiểm, va du lịch 1] nông thôn ngày càng được ưa chuộng. Những loại hình này không chi đáp ứng nhu cau khám phá, học hỏi của du khách mả còn mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương thông qua việc tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống. Đông thời, các loại hình du lịch này khuyến khích các nhà đầu tư du lịch có chiến lược đài hạn, bảo vệ môi trưởng và nâng cao ý thức cộng đồng.
Sự thay đôi trong xu hướng du lịch đã thúc day nhiều nghiên cứu vẻ các loại hình du lịch thay thé, đặc biệt là du lịch sinh thái. Các nhà nghiên cứu như Dernoi (1981), Ceballos-Lascurain (1987), Fennell David A. (1999) va nhiều tác gia khác da có những đóng góp quan trọng vào việc xây dựng lý thuyết về du lịch sinh thái. Theo Ceballos- Lascurain (1987), du lịch sinh thái là hình thức du lịch tới những khu vực tự nhiên còn nguyên sơ, với mục đích nghiên cứu, tham quan và tôn trọng thé giới hoang dã cùng các giá trị văn hóa.
Boo (1990) cũng đông ý rằng du lịch sinh thái giúp khách du lịch khám phá hệ sinh thái tự nhiên còn được bảo ton tốt. Nghiên cứu của Kreg Lindberg và Donal E. Hawkins (1999) nhắn mạnh sự ben vững trong việc khai thác các hệ sinh thái tự nhiên và nhân văn, từ đó đưa ra các nguyên tắc quản lý vả quy hoạch du lịch. Weaver (2001) chi ra ba tiêu chi cốt lõi của du lịch sinh thái: dựa vào thiên nhiên, tính bền vững và yếu tổ giáo dục.
Dowling (2002) bé sung thêm hai yếu tổ là lợi ích cho cộng đồng và sự hải lòng của du khách. Các tô chức quốc tế như Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (TIES) và Quy Bao tồn Thiên nhiên Hoang đã (WWF) cũng đã đưa ra các định nghĩa tương tự, nhắn mạnh ring du lịch sinh thái không chỉ bảo tồn thiên nhiên và văn hóa mà còn đem lại lợi ích kinh tế cho cộng dong địa phương, dong thời nâng cao nhận thức va sự tôn trọng của du khách đổi với môi trường tự nhiên va văn hóa. Nghiên cứu về thực tiễn phát triển DLST Dựa trên cơ sở lý luận, nhiều nghiên cứu thực tiễn đã được tiến hành vẻ phát trién du lich sinh thai (DLST). Yi-fong, Chen (2012) nghiên cứu tác động văn hóa-xã hội của du lịch mới đối với bảo tén văn hóa, xã hội và sinh thái, chỉ ra rằng các nhóm khác nhau trong cộng dong sẽ hưởng lợi hoặc chịu tác động khác nhau.
Sự phat trién du lịch tại vườn quốc gia (VQG) có thé làm gia tăng bat bình đăng giữa các nhóm, đỏi hỏi phải hiểu rõ không chi quan hệ giữa cộng đồng và môi trường, mà còn cả các van đề chính tri, kinh tế và văn hóa giữa cộng đồng và quản lý VQG. (2011) dé xuất các nguyên tắc quan trọng cho sự thành công trong phát triển DLST tại các khu rừng nhiệt đới, bao gồm nâng cao năng lực cộng đồng, trao đôi nhận thức, đồng quản lý tài nguyên rừng và giảm thiêu tác động tiêu cực đến môi trường. Nghiên cứu nhan mạnh mối liên hệ giữa DLST, bảo tôn hệ sinh thai và phát triển cộng déng địa phương. Apostu và Gheres (2009) phân tích thực trạng DLST ở Romania, chỉ ra hai nhóm vấn dé: thiếu sót trong ngành du lịch và quản lý các khu rừng đặc dụng.
Những van dé này xuất phát từ việc quảng bá kém và thiểu cơ chế quan lý hợp lý cho môi trường quan trọng đối với đa dạng sinh học. Samdin và cộng sự (2013) đánh giá giá trị kinh té của tài nguyên DLST ở VQG Taman Negara, khang định rang du khách sẵn sang trả phí vào cửa cao hơn mức hiện tại. Özcan và cộng sự (2009) nhấn mạnh cần xây dựng cơ sở hạ lang, bảo vệ động vật hoang đã, và giảm thiểu tác động tiêu cực từ các hoạt động dân cư xung quanh. Những biện pháp này sẽ giúp phát huy tiềm năng du lịch sinh thái mà không ảnh hưởng xấu đến môi trường.
Ngoài ra, du lịch nông nghiệp cũng thu hút sự quan tâm của nhiều nha nghiên cứu. Theo Sznajder và cộng sự (2009), Gil Arroyo va cộng sự (2013), Karampela và cộng sự (2021), du lịch nông nghiệp bao gồm các hoạt động nghỉ ngơi, giải trí và giáo dục tại các trang trại. Bhatta va cộng sự (2019) nhận định rằng tặc dù đã phát triển lâu đời ở các nước phát triển, loại hình đu lịch này vẫn còn hạn chế tại các quốc gia đang phát triển, đặc biệt ở châu Á. Nghiên cứu của Kumar và cộng sự (2015), Abadi va Khakzand (2022) chỉ ra rằng du lịch nông nghiệp không chỉ tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế, mà còn giảm di cư từ nông thôn ra thành phố, bảo tổn di sản văn hóa và truyền thong (Mcgehee và cộng sự, 2007; Barbieri, 2013).
Theo nghiên cứu của Lee (2005), Đài Loan đã phát triển du lịch nông nghiệp thông qua chăn nuôi, nông nghiệp và thủy sản, kết hợp với các hoạt động giải trí, nghỉ dưỡng, bảo tồn văn hóa va bao vệ môi trường. Tại Hàn Quốc, mô hình du lịch nông nghiệp ở huyện Yeongdong liên kết chặt chẽ với các công ty du lịch và hệ thông đường sắt, mang lại lợi ích kinh tế cho địa phương (Ngô Thị Phương Lan và cộng sự, 2020). Những nghiên cứu ở Việt Nam s* Nghiên cứu lý luận Ở Việt Nam, du lịch sinh thái (DLST) thực sự được sự quan tâm, chú ý từ những năm 90 của thế ky 20 với nhiều công trình nghiên cứu, tiêu biéu như: Phạm Trung Lương và ctg (1996), với dé tài NCKH cấp Bộ “Du lịch sinh thai những vấn đề về lý luận và thực tiên ở Việt Nam” đã trình bày những khái niệm cơ bản về du lịch sinh thái: Phân tích mối quan hệ giữa du lịch sinh thái với các loại hình du lịch khác; Xác định vj trí của du lịch sinh thai trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam: Đánh giá tiềm năng và hiện trang phát triển và đề xuất những giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam. Có thé nói đây là nghiên tông thé về du lịch sinh thái, cung cấp những cơ sở khoa học có độ tin cậy cao cho luận án này.
Viện nghiên cứu và Phát triển du lịch (2007). với dé tài “Mghiên cứu và dé xuất tiêu chí khu DLST Việt Nam” nghiên cứu này đã góp phan xây dựng hệ thông quy định của ngành du lịch Việt Nam nhằm quản lý và phát triển du lịch có hiệu quả cao về kinh tế - xã hội và môi trường; Dé xuất các tiêu chí khu du lịch sinh thái ở Việt Nam. làm cơ sở cho đầu tư, phát triển các khu du lịch sinh thai theo định hướng chiến lược phát triển du lịch Việt Nam. Kết quả của đẻ tài là cơ sở cho việc xem xét các căn cứ đầu tiên công nhận các khu du lịch sinh thái, tuy nhiên đề có thé ban hành thành văn bản pháp lý cần tiếp tục triển khai xây dựng hệ thong tiêu chuan cho các khu du lịch sinh thái cụ thể đến từng loại hình khu du lịch sinh thái theo vị trí địa lý như khu du lich sinh thái ở vùng núi, vùng đồng bang và vùng biên cũng như tiêu chuẩn theo từng loại hình tài nguyên du lịch sinh thái Lê Huy Bá (2006).
*Du lịch sinh thái - Ecotourism” đã phân tích sâu về các quy luật tương tác giữa các thành phần môi trường trong một hệ sinh thái, tính đa dang sinh học. diễn thé và sự phụ thuộc lan nhau của chúng theo quy luật vận động và phat triển của DLST. Giới thiệu cơ sở sinh thái môi trường, sinh thái cảnh quan, cái hay, cái đẹp, cái hap dan của một số loại hình sinh thái đặc thù, khai thác nhằm phục vụ cho hướng dẫn DLST và bảo vệ môi trường bên vững mả trước hết là phát triển loại hình DLST bền vững. 14 Nguyễn Đình Hoe và Vũ Văn Hiểu (2001), trong quyền “Du lịch bền vững" cho rằng việc phát triển du lịch bền vững cần hiểu đúng về môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội, thấy được mỗi quan hệ tác động qua lại giữa các hệ thong để đưa ra giải pháp phát triển hợp lý.
Bản chất của du lịch sinh thái là gắn liền với bảo vệ giá trị tự nhiên, giá trị nhân văn và hướng đến giáo dục ý thức của người tham gia. * Nghiên cứu về thực tiễn phát triển DLST Nguyễn Thị Sơn (2000). tập trung phân tích thực trạng tiềm năng DLST ở VQG Cúc Phương, từ đó tác giả đưa ra các giải pháp để phát triển DLST; ở đây chủ yếu là các giải pháp mang tính định tính chứ chưa đề cập đến các phương án cụ thể dé khai thác các tiềm năng này. Nguyễn Thị Tú (2006), nghiên cứu điều kiện phát triển du lịch sinh thái và xu thé phát triển du lịch sinh thái Việt Nam trong xu thé hội nhập.
Nguyễn Văn Hợp (2007) đã phân tích được thực trạng kính doanh san phẩm DLST ở VQG Ba Vì từ đó đưa ra các chiến lược kinh doanh cho sản phẩm DLST ở đây. Tuy nhiên, phương pháp tác giả sử dụng là phương pháp định tính. Nguyễn Văn Mạnh (2005) đã phần tích khía cạnh khai thác tiêm năng du lịch tại các VQG dé phát triên du lich sinh thái. Tác giả đã làm rõ được tiềm năng du lịch tại VQG phù hợp với tính chất và đặc điểm du lịch sinh thái tuy nhiên cụ thể hóa cân khai thác tiềm năng du lịch này như thể nào.