Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam, du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng thu nhập quốc dân và tạo nguồn thu ngoại tệ. Tỉnh Hà Giang – nằm ở vùng núi phía Bắc gồm 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc – sở hữu tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú. Lượng khách du lịch đến tỉnh Hà Giang đã tăng trưởng từ khoảng 100.000 lượt khách (năm 2012) lên đến 1 triệu lượt khách (năm 2017).

Nằm ở cực Bắc Tổ quốc, xã Sà Phìn thuộc huyện Đồng Văn là địa bàn chứa đựng nhiều giá trị di sản đặc sắc, tiêu biểu là di tích Dinh thự Vua Mèo (Vương Chính Đức) và nằm trọn trong vùng Công viên Địa chất Toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn (được UNESCO công nhận năm 2010). Sự gia tăng nhanh chóng của dòng khách du lịch đã thúc đẩy các hoạt động dịch vụ, lưu trú và thương mại, tạo thêm sinh kế cho người dân bản địa (chủ yếu là đồng bào dân tộc H'mông). Tuy nhiên, hoạt động phát triển du lịch cộng đồng tại địa bàn cũng đặt ra nhiều vấn đề về tác động kinh tế - xã hội, biến đổi sinh kế và năng lực quản lý của cộng đồng địa phương.

Khóa luận xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Nghiên cứu thực trạng hoạt động du lịch cộng đồng trên địa bàn xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển hoạt động du lịch cộng đồng, đồng thời hạn chế các tác động tiêu cực đối với đời sống cư dân bản địa.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Đánh giá thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
    • Đánh giá tiềm năng tài nguyên thiên nhiên và nhân văn phục vụ du lịch cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu.
    • Xác định những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển du lịch cộng đồng ở địa phương.
    • Đưa ra định hướng và đề xuất các nhóm giải pháp nhằm phát triển hoạt động văn hóa và du lịch cộng đồng bền vững.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tình hình hoạt động du lịch, kết quả đạt được và các giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tại địa bàn xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung phân tích các tác động của hoạt động du lịch cộng đồng đến đời sống kinh tế - xã hội và thu nhập của các hộ dân bản địa.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang (khảo sát chuyên sâu tại 3 thôn trọng điểm: Thành Ma Tủng, Sà Phìn A và Sà Phìn B).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực địa và thu thập số liệu được thực hiện từ ngày 20/02/2019 đến ngày 20/05/2019; chuỗi số liệu thứ cấp được tổng hợp trong giai đoạn 2016 – 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng khung lý luận dựa trên các khái niệm chuẩn hóa về du lịch và dịch vụ du lịch theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và Luật Du lịch Việt Nam (phân loại khách du lịch nội địa, khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài). Về mặt chuyên ngành Phát triển nông thôn, tác giả hệ thống hóa khái niệm du lịch cộng đồng, vai trò của du lịch cộng đồng trong việc giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, giảm di cư tự do và bảo tồn di sản văn hóa. Các hình thức du lịch cộng đồng được làm rõ gồm: du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch nông nghiệp, du lịch bản địa và du lịch gắn với hộ gia đình (homestay). Tác giả tổng hợp 10 nguyên tắc cơ bản phát triển du lịch bền vững và phân tích các bài học kinh nghiệm quốc tế (Nhật Bản, Đài Loan, phong trào Saemaul Undong tại Hàn Quốc, chương trình Amazing Thailand và sáng kiến "Lá xanh" tại Thái Lan) cùng mô hình thực tiễn trong nước (bản Cát Cát tại Sa Pa - Lào Cai; bản Bó và Mộc Châu tại Sơn La).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai cụ thể:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Kế thừa các báo cáo kinh tế - xã hội, số liệu thống kê giai đoạn 2016 – 2018 từ Ủy ban nhân dân xã Sà Phìn, Phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên và Môi trường và Phòng Thống kê huyện Đồng Văn.
  • Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Tiến hành chọn mẫu điều tra toàn bộ $n = 80$ hộ dân có tham gia hoạt động du lịch cộng đồng trên địa bàn xã Sà Phìn bằng bảng hỏi phỏng vấn trực tiếp tại 3 thôn đại diện:
    • Thôn Thành Ma Tủng: 27 hộ
    • Thôn Sà Phìn A: 27 hộ
    • Thôn Sà Phìn B: 26 hộ
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
    • Toàn bộ số liệu sơ cấp được tổng hợp và xử lý trên phần mềm bảng tính Microsoft Excel.
    • Sử dụng phương pháp thống kê mô tả nhằm phân tích quy mô, cơ cấu, các chỉ tiêu bình quân về nhân khẩu, lao động, doanh thu, chi phí và lợi nhuận.
    • Phương pháp so sánh - đối chiếu nhằm xác định xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế, đất đai, dân số và lượng khách du lịch qua các năm.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tiềm năng của Công viên Địa chất Toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn và Dinh thự họ Vương tại xã Sà Phìn; xác định rõ mục tiêu chung, 4 mục tiêu cụ thể, đối tượng nghiên cứu, cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khóa luận đối với công tác phát triển nông thôn miền núi.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Tổng hợp cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng, phân tích vai trò của du lịch trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, xác định 10 nguyên tắc phát triển cộng đồng và phân loại các mô hình du lịch (sinh thái, văn hóa, homestay). Phân tích kinh nghiệm quốc tế từ chính sách phát triển công nghiệp nông thôn và du lịch tại Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan và các điển hình du lịch cộng đồng tại Lào Cai, Sơn La.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày cụ thể địa bàn nghiên cứu (xã Sà Phìn), khung thời gian thực hiện (20/02/2019 – 20/05/2019), quy trình điều tra chọn mẫu 80 hộ dân tại 3 thôn (Thành Ma Tủng, Sà Phìn A, Sà Phìn B), cùng hệ thống phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp, thứ cấp và phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê mô tả trên phần mềm Excel.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Đây là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện các kết quả nghiên cứu thực địa và phân tích định lượng:

1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Sà Phìn:

  • Địa lý và đất đai: Xã vùng cao biên giới cách trung tâm huyện Đồng Văn 15 km, cách thành phố Hà Giang 145 km. Tổng diện tích tự nhiên đạt 1.534,77 ha; địa hình núi đá hiểm trở chiếm 73,49%, độ cao trung bình 1.200 m so với mực nước biển; tài nguyên nước mặt và nước ngầm rất khan hiếm. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm dần từ 506,3 ha (33,0% năm 2016) xuống 31,41% (năm 2018); đất sử dụng cho dịch vụ du lịch tăng từ 6,05 ha (0,40% năm 2016) lên 20,01 ha (1,31% năm 2018).
  • Tăng trưởng kinh tế: Tổng giá trị gia tăng tăng từ 591 triệu đồng (2016) lên 796 triệu đồng (2018). Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng từ 10,3% (2016) lên 12,8% (2018); thu nhập bình quân đầu người năm 2018 đạt 31 triệu đồng/người/năm.
  • Dân số và lao động: Năm 2018 toàn xã có 3.189 nhân khẩu với 656 hộ gia đình, 100% là người dân tộc H'mông thuộc 8 dòng họ sinh sống trên 11 thôn bản. Tổng số lao động là 1.800 người; lao động nông nghiệp chiếm 90,56%, lao động dịch vụ du lịch chiếm 8,27% (tăng từ mức 6,30% năm 2016).
Chỉ tiêu kinh tế - xã hội Đơn vị tính Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018
Tổng giá trị gia tăng Triệu đồng 591 661 796
- Nông lâm nghiệp Triệu đồng 253 285 342
- Công nghiệp và xây dựng Triệu đồng 155 167 200
- Dịch vụ Triệu đồng 183 209 254
Cơ cấu ngành dịch vụ % 30,96 31,36 31,91
Tốc độ tăng trưởng kinh tế % 10,3 11,5 12,8
Thu nhập bình quân đầu người Triệu đồng/năm 25,5 28,0 31,0
Tổng số hộ dân Hộ 598 621 656
Tổng số lao động Người 1.587 1.722 1.800

2. Tiềm năng du lịch cộng đồng:

  • Tài nguyên thiên nhiên: Cảnh quan núi đá vôi thuộc Công viên Địa chất Toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, các mùa hoa tam giác mạch (nở từ cuối tháng 10 đến giữa tháng 11), hoa lê, hoa đào và hoa bạc hà.
  • Tài nguyên nhân văn: Di tích kiến trúc nghệ thuật Dinh thự họ Vương (Vương Chính Đức) với cấu trúc 3 cung (tiền, trung, hậu), 64 phòng, sức chứa 100 người, kết hợp kiến trúc nhà Thanh, hoa văn H'mông và pháo đài Pháp với nghệ thuật điêu khắc đá hình hoa anh túc; Lễ hội Gầu Tào (diễn ra từ mồng 1 đến rằm tháng Giêng với nghi thức dựng cây Nêu cầu phúc, cầu mệnh); nghệ thuật múa khèn Mông; nghề dệt vải lanh truyền thống và ẩm thực bản địa (thắng cố, mèn mén, mật ong bạc hà).

3. Thực trạng phát triển du lịch và cơ sở hạ tầng:

  • Lượng khách du lịch: Tổng lượng khách đến Sà Phìn tăng từ 98.569 lượt (năm 2016) lên 138.569 lượt (năm 2018). Khách quốc tế tăng từ 9.687 lượt (2016) lên 13.687 lượt (2018).
  • Cơ sở lưu trú và dịch vụ: Toàn xã có 12 cơ sở lưu trú (nhà nghỉ và homestay) tập trung tại 3 thôn chính (Thành Ma Tủng, Sà Phìn A, Sà Phìn B) với quy mô từ 2 đến 12 phòng/cơ sở; công suất sử dụng phòng bình quân đạt khoảng 50%. Có 13 điểm kinh doanh dịch vụ ăn uống, bán đồ lưu niệm thổ cẩm và mật ong bạc hà.

4. Phân tích kinh tế hộ từ 80 mẫu khảo sát:

  • Phân loại hộ: Trong 80 hộ khảo sát, có 26 hộ khá (68 lao động), 40 hộ trung bình (85 lao động) và 14 hộ nghèo - cận nghèo (66 lao động). Trình độ học vấn tập trung ở cấp II (50 người) và cấp III (74 người); số lao động mù chữ còn 19 người (tập trung tại hộ nghèo).
  • Thời gian tham gia: 41,25% hộ tham gia dưới 2 năm; 58,75% hộ tham gia từ 3 đến 4 năm.
  • Loại hình dịch vụ: Cung cấp quà lưu niệm (40,0%), dịch vụ ăn uống (27,5%), dịch vụ lưu trú (15,0%), hướng dẫn viên bản địa (8,75%), biểu diễn văn nghệ dân gian (8,75%).
Chỉ tiêu kinh tế hộ du lịch Hộ khá Hộ trung bình Hộ nghèo – cận nghèo
Số lượng hộ điều tra (hộ) 26 40 14
Doanh thu trung bình (1.000 đ/hộ/tháng) 13.000 11.000 4.000
Thu nhập từ du lịch (1.000 đ/hộ/tháng) 8.100 6.000 3.080
- Thu nhập từ dịch vụ ăn uống 2.500 1.800 880
- Thu nhập từ bán quà lưu niệm 2.000 1.500 1.200
- Thu nhập từ dịch vụ lưu trú 1.300 800 400
- Thu nhập từ cho thuê phương tiện 1.000 700 200
- Thu nhập từ biểu diễn nghệ thuật 400 400 200
- Thu nhập từ hướng dẫn viên 900 800 200
Chi phí hoạt động du lịch (1.000 đ/hộ/tháng) 5.928 1.940 451
- Chi phí nguyên vật liệu 2.753 900 -
- Trả lương nhân viên 2.500 485 -
- Chi phí điện, nước 300 284 172
- Chi phí khấu hao tài sản cố định 220 78 0
- Thuế và chi phí khác 155 193 279

5. Đánh giá thuận lợi, khó khăn và giải pháp:

  • Thuận lợi: Hạ tầng giao thông mở rộng (100 km đường giao thông, gồm 80 km liên xã và 20 km liên thôn); tài nguyên di sản Dinh họ Vương và lễ hội phong phú.
  • Khó khăn: Thiếu nguồn nước sinh hoạt nghiêm trọng, hạ tầng thoát nước chưa đồng bộ; du lịch mang tính thời vụ cao; nguồn nhân lực thiếu kỹ năng giao tiếp và ngoại ngữ; hộ nghèo thiếu vốn mở rộng homestay.
  • Giải pháp: Đào tạo nguồn nhân lực du lịch cộng đồng; hoàn thiện cơ sở hạ tầng lưu trú và xử lý nước sinh hoạt; bảo tồn các giá trị văn hóa H'mông gắn với dệt lanh và lễ hội Gầu Tào; đẩy mạnh quảng bá xúc tiến.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm tắt các kết quả đạt được về thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế hộ và hiệu quả của du lịch cộng đồng tại xã Sà Phìn; kiến nghị các cấp chính quyền huyện Đồng Văn và tỉnh Hà Giang hỗ trợ vốn vay ưu đãi, đầu tư hệ thống cấp nước và tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng du lịch cho người dân bản địa.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã lượng hóa cụ thể thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại xã Sà Phìn giai đoạn 2016 – 2018 thông qua hệ thống dữ liệu thực địa:

  • Kết quả định lượng cụ thể:
    • Lượng khách du lịch đến Sà Phìn đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, từ 98.569 lượt (năm 2016) lên 138.569 lượt khách (năm 2018), trong đó khách quốc tế đạt 13.687 lượt.
    • Hoạt động du lịch cộng đồng đóng góp đáng kể vào cơ cấu thu nhập hộ gia đình: Hộ khá đạt thu nhập bình quân từ du lịch là 8.100.000 đồng/hộ/tháng; Hộ trung bình đạt 6.000.000 đồng/hộ/tháng; Hộ nghèo và cận nghèo đạt 3.080.000 đồng/hộ/tháng.
    • Phản ánh cơ cấu dịch vụ du lịch nông thôn với 40,0% hộ cung cấp quà lưu niệm (chủ yếu là thổ cẩm dệt lanh và mật ong bạc hà), 27,5% hộ làm dịch vụ ăn uống, 15,0% hộ cung cấp dịch vụ homestay (12 cơ sở với sức chứa từ 2 - 12 phòng/điểm).
  • Hệ thống giải pháp đề xuất:
    • Giải pháp phát triển nguồn nhân lực: Mở các lớp đào tạo kỹ năng đón tiếp, vệ sinh an toàn thực phẩm và ngoại ngữ cơ bản cho người dân.
    • Giải pháp đầu tư cơ sở hạ tầng: Hoàn thiện hệ thống rãnh thoát nước, tìm kiếm nguồn giải quyết tình trạng thiếu nước sinh hoạt cho các hộ làm homestay.
    • Giải pháp bảo tồn và phát triển sản phẩm du lịch: Gắn kết bảo tồn kiến trúc Dinh họ Vương, phục dựng lễ hội Gầu Tào và phát triển hợp tác xã dệt thổ cẩm lanh, mật ong bạc hà phục vụ du khách.
  • Đóng góp của nghiên cứu: Khóa luận cung cấp bức tranh thực tế có tính xác thực cao về mô hình du lịch cộng đồng tại một xã vùng cao núi đá tai mèo đặc thù của tỉnh Hà Giang, đóng góp dữ liệu thực nghiệm về mối quan hệ giữa bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thiểu số và xóa đói giảm nghèo nông thôn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Khảo sát thực địa giới hạn trên quy mô 80 hộ dân tại 3 thôn trung tâm (Thành Ma Tủng, Sà Phìn A, Sà Phìn B) do đặc thù địa hình chia cắt phức tạp, chưa bao quát được toàn bộ 11 thôn bản trong xã.
    • Thời gian điều tra thực địa diễn ra trong khoảng thời gian 3 tháng (từ ngày 20/02/2019 đến ngày 20/05/2019), chủ yếu phản ánh hoạt động du lịch mùa lễ hội đầu năm và đầu hè, chưa theo dõi đầy đủ biến động doanh thu vào mùa hoa tam giác mạch cuối năm.
    • Hoạt động lưu trú của du khách còn mang tính chất ngắn ngày (khách vãng lai chiếm tỷ trọng lớn), công suất khai thác phòng mới đạt mức trung bình 50%.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát liên thôn và liên xã trên địa bàn Công viên Địa chất Toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn.
    • Nghiên cứu chuyên sâu giải pháp khắc phục tính mùa vụ trong du lịch cộng đồng và mô hình liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp - du lịch sinh thái bền vững cho vùng đồng bào H'mông.

Giá trị tham khảo

Đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng và mục đích học thuật cụ thể:

  • Sinh viên và học viên: Các ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản trị dịch vụ du lịch & lữ hành, Xã hội học nông thôn cần tài liệu tham khảo về phương pháp thiết kế bảng hỏi, xử lý số liệu điều tra kinh tế hộ và phân tích sinh kế du lịch miền núi.
  • Cán bộ quản lý địa phương: Cán bộ chuyên trách văn hóa - xã hội, khuyến nông và chính quyền xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn tham khảo số liệu thực trạng, danh mục cơ sở lưu trú và các khó khăn nội tại để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch cộng đồng gắn liền với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát bao nhiêu hộ dân và phân bổ tại những địa bàn nào?
Nghiên cứu tiến hành điều tra, phỏng vấn trực tiếp toàn bộ 80 hộ dân tham gia hoạt động du lịch cộng đồng trên địa bàn xã Sà Phìn, phân bổ tại 3 thôn: thôn Thành Ma Tủng (27 hộ), thôn Sà Phìn A (27 hộ) và thôn Sà Phìn B (26 hộ).

2. Lượng khách du lịch đến xã Sà Phìn trong giai đoạn 2016 – 2018 biến động ra sao?
Tổng lượng khách du lịch đến xã Sà Phìn tăng trưởng đều qua các năm: đạt 98.569 lượt năm 2016, 115.680 lượt năm 2017 và đạt 138.569 lượt năm 2018. Trong đó, lượng khách quốc tế năm 2018 đạt 13.687 lượt người.

3. Mức thu nhập từ hoạt động du lịch giữa các nhóm hộ khảo sát có sự chênh lệch như thế nào?
Thu nhập bình quân hàng tháng từ du lịch có sự phân hóa theo nguồn lực: nhóm hộ khá đạt 8.100.000 đồng/hộ/tháng; nhóm hộ trung bình đạt 6.000.000 đồng/hộ/tháng; nhóm hộ nghèo và cận nghèo đạt 3.080.000 đồng/hộ/tháng (chủ yếu thu từ bán sản phẩm dệt lanh và mật ong bạc hà).

4. Quy mô cơ sở lưu trú phục vụ du lịch tại xã Sà Phìn như thế nào?
Toàn xã có 12 cơ sở lưu trú (homestay và nhà nghỉ) hoạt động theo hình thức tự kinh doanh với quy mô nhỏ từ 2 đến 12 phòng/cơ sở (tiêu biểu như Homestay Nhà Vương 12 phòng, Nhà nghỉ Sà Phìn 10 phòng, Nhà nghỉ A Pó 10 phòng). Công suất sử dụng phòng bình quân đạt khoảng 50%.

5. Những tài nguyên du lịch nhân văn nổi bật nào được phân tích trong khóa luận?
Đề tài phân tích 4 tài nguyên nhân văn cốt lõi: Di tích kiến trúc nghệ thuật Dinh thự họ Vương (Vương Chính Đức) gồm 64 phòng; Lễ hội Gầu Tào truyền thống của người H'mông diễn ra từ mồng 1 đến rằm tháng Giêng; nghệ thuật múa khèn Mông; và nghề thủ công truyền thống dệt vải lanh thổ cẩm.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vàng Thị Hồng Liên đã phản ánh chi tiết thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang thông qua chuỗi dữ liệu kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 – 2018 và kết quả khảo sát thực tế 80 hộ dân. Nghiên cứu khẳng định du lịch cộng đồng dựa trên di tích Dinh họ Vương và bản sắc văn hóa H'mông đã trở thành hướng chuyển dịch sinh kế quan trọng, mang lại thu nhập đáng kể cho các hộ gia đình. Đồng thời, công trình chỉ rõ các điểm nghẽn về hạ tầng nước sinh hoạt, tính thời vụ và kỹ năng nguồn nhân lực, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển du lịch nông thôn có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho địa phương.