Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch hiện nay đóng vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn toàn cầu, tạo ra hơn 10% tổng số việc làm và đóng góp hàng ngàn tỷ USD vào tổng sản phẩm quốc nội trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, với hơn 70% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn và ven biển, sinh kế của cộng đồng địa phương phần lớn vẫn gắn liền với việc khai thác trực tiếp nguồn tài nguyên thiên nhiên. Vấn đề đặt ra là việc khai thác thiếu kiểm soát đã và đang tạo ra áp lực nặng nề lên các hệ sinh thái tự nhiên nhạy cảm, đặc biệt là tại các vùng biển đảo.

Khu bảo tồn biển Phú Quốc là 1 trong 12 khu bảo tồn biển trọng điểm quốc gia, đồng thời là vùng lõi quan trọng của Khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang. Địa bàn này sở hữu hệ sinh thái biển vô cùng phong phú với diện tích rạn san hô và thảm cỏ biển rộng lớn, là nơi cư ngụ của nhiều loài sinh vật quý hiếm như rùa biển và bò biển (Dugong). Tuy nhiên, trước sức ép từ các hoạt động xả thải sinh hoạt, dư lượng hóa chất nông nghiệp và đặc biệt là phương thức đánh bắt hải sản tận diệt, môi trường sinh thái biển tại đây đang đứng trước nguy cơ suy thoái nghiêm trọng.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng, đánh giá toàn diện thực trạng phát triển du lịch tại địa phương, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp xây dựng mô hình du lịch cộng đồng bền vững. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian Khu bảo tồn biển Phú Quốc (bao gồm khu vực phía Đông Bắc đảo và phía Nam quần đảo An Thới), sử dụng chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2010 - 2015 kết hợp khảo sát thực địa sơ cấp từ tháng 02/2017 đến tháng 07/2017.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc xác lập giải pháp giúp giảm thiểu khoảng 30% đến 40% áp lực khai thác hải sản tự nhiên, nâng cao thu nhập bình quân của các hộ dân tham gia thêm 15% đến 25%, đồng thời bảo tồn nguyên vẹn các giá trị đa dạng sinh học biển đảo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận nền tảng lý thuyết du lịch dựa vào cộng đồng (Community Based Tourism - CBT) được phát triển bởi các học giả Nicole Hausle, Wolfgang Strasdas và được PGS. TS Phạm Trung Lương hệ thống hóa. Theo đó, du lịch cộng đồng là phương thức phát triển bền vững mà ở đó người dân bản địa đóng vai trò chủ thể tổ chức, cung ứng dịch vụ, thụ hưởng lợi ích kinh tế - xã hội và trực tiếp chịu trách nhiệm bảo vệ môi trường, văn hóa bản sắc.

Nghiên cứu phân định 3 cấp độ tham gia của cộng đồng:

  • Cấp độ thụ động: Cộng đồng chỉ đóng vai trò là đối tượng tham quan, không có tiếng nói trong quy hoạch và hưởng lợi rất thấp.
  • Cấp độ tham gia: Cộng đồng cung cấp một số dịch vụ phụ trợ như ăn uống, đồ lưu niệm và nhận lại một phần nhỏ giá trị gia tăng.
  • Cấp độ chủ động: Cộng đồng là chủ thể quản lý, vận hành các dịch vụ trải nghiệm và trực tiếp phân phối nguồn lợi kinh tế.

Bên cạnh đó, mô hình động lực - sức ép - hiện trạng - tác động - phản hồi (DPSIR) được ứng dụng làm khung phân tích cốt lõi để làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa sinh kế cộng đồng và sự biến đổi của hệ sinh thái biển. Luận văn cũng vận dụng mô hình liên kết bốn bên cùng có lợi (Win-Win) giữa Nhà nước, Doanh nghiệp du lịch, Cộng đồng địa phương và Du khách.

Về mặt thực tiễn, tác giả tổng hợp bài học kinh nghiệm từ các mô hình thành công: chương trình Homestay Malaysia tại 13 bang với 3.300 hộ dân ở 230 ngôi làng đem lại doanh thu trên 16 triệu USD; kinh nghiệm phân vùng quy hoạch du lịch bền vững tại đảo Bali (Indonesia) thu hút hơn 5,185 triệu lượt khách quốc tế; cùng các mô hình du lịch cộng đồng tại Sa Pa (giúp bản Sín Chải giảm tỷ lệ nghèo từ 68% xuống còn 26%) và Vườn quốc gia Ba Bể với 111 hộ dân tham gia cung ứng dịch vụ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao:

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo tổng kết giai đoạn 2006 - 2015 của Ban quản lý Khu bảo tồn biển Phú Quốc, Sở Du lịch tỉnh Kiên Giang, UBND huyện Phú Quốc, cùng các tài liệu thống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN).
  • Dữ liệu sơ cấp: Được thu thập thông qua đợt điều tra khảo sát xã hội học kéo dài từ tháng 02/2017 đến tháng 07/2017.

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định gồm 250 đối tượng khảo sát, áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện. Cụ thể:

  • 120 phiếu khảo sát dành cho khách du lịch nội địa và quốc tế tại các điểm tham quan.
  • 80 phiếu phỏng vấn sâu hộ gia đình ngư dân tại các làng chài ven biển như Hàm Ninh, Bãi Thơm, Hòn Thơm.
  • 50 phiếu điều tra chuyên gia, cán bộ quản lý nhà nước và đại diện các doanh nghiệp lữ hành trên đảo.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích tần số trên phần mềm xử lý dữ liệu kết hợp khung phân tích DPSIR là nhằm lượng hóa chính xác mức độ sẵn sàng chuyển đổi nghề nghiệp của ngư dân, đo lường sự hài lòng của du khách và chỉ ra các mắt xích xung đột lợi ích giữa bảo tồn và khai thác.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng phát triển du lịch tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, tài nguyên du lịch sinh thái biển đặc biệt phong phú nhưng mức độ suy thoái đang gia tăng nhanh chóng. Khảo sát hiện trạng cho thấy hơn 65% rạn san hô và các bãi cỏ biển tại vùng biển phía Đông Bắc và Nam quần đảo An Thới đang đứng trước nguy cơ hư hại do hoạt động thả neo tàu thuyền du lịch tự phát và phương thức cào đánh bắt đáy của ngư dân.

Thứ hai, hoạt động du lịch cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu còn mang nặng tính tự phát và manh mún. Kết quả điều tra thực địa ghi nhận chỉ có khoảng 18,5% hộ dân tại các vùng đệm tham gia cung cấp dịch vụ du lịch (chủ yếu là phục vụ ăn uống hải sản nhỏ lẻ và vận chuyển khách bằng ghe thuyền tự chế), trong khi hơn 81,5% số hộ còn lại vẫn duy trì các hoạt động đánh bắt hải sản truyền thống với ngư cụ có tính tận diệt cao.

Thứ ba, nhu cầu trải nghiệm văn hóa bản địa của du khách rất lớn nhưng chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng kỳ vọng. Số liệu thống kê cho thấy có 74,2% du khách bày tỏ mong muốn được tham gia các tour trải nghiệm đời sống ngư dân (câu mực đêm, tìm hiểu nghề làm mắm, nuôi ngọc trai), nhưng chỉ có 28,6% du khách cảm thấy hài lòng với điều kiện vệ sinh môi trường, hạ tầng bến bãi và thái độ phục vụ tại các điểm đến dân cư.

Thứ tư, cơ chế phân chia lợi ích kinh tế còn nhiều bất cập. Mức thu nhập bổ sung từ du lịch của các hộ dân tham gia dao động từ 1,5 đến 3,2 triệu đồng/tháng, chiếm tỷ trọng dưới 20% trong cơ cấu tổng thu nhập của hộ gia đình. Tỷ lệ đóng góp trích nộp từ doanh thu du lịch vào quỹ bảo tồn và tái đầu tư hạ tầng cộng đồng địa phương gần như bằng 0%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các hạn chế trên xuất phát từ việc thiếu vắng một bản quy hoạch không gian du lịch cộng đồng bài bản, cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan còn lỏng lẻo và năng lực quản lý của người dân còn yếu kém. Dữ liệu nghiên cứu thực địa phản ánh rõ nét sự mất cân đối này khi được trực quan hóa qua biểu đồ cơ cấu thu nhập và bảng ma trận đánh giá mức độ hài lòng của du khách theo thang đo Likert 5 mức độ. Biểu đồ chỉ ra rằng các điểm đến tập trung đông khách du lịch lại chính là những khu vực có mức độ ô nhiễm rác thải nhựa đại dương cao nhất.

Khi so sánh với bài học thành công từ mô hình Homestay tại Malaysia (nơi chính phủ hỗ trợ trực tiếp 5.000 RM cho mỗi hộ để chuẩn hóa buồng phòng và nhà vệ sinh) hay mô hình quản lý dựa vào cộng đồng tại Vườn quốc gia Ba Bể (huy động 25 hướng dẫn viên bản địa và 10 hộ làm nhà nghỉ sinh thái đạt chuẩn), Phú Quốc đang bỏ lỡ tiềm năng to lớn từ nguồn tài nguyên nhân văn miền biển. Việc xây dựng một mô hình hợp tác đa phương có sự hỗ trợ của Ban quản lý Khu bảo tồn là chìa khóa then chốt để giải quyết bài toán mâu thuẫn giữa bảo tồn sinh thái và cải thiện sinh kế.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát triển bền vững mô hình du lịch cộng đồng tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền với lộ trình và chủ thể thực hiện cụ thể:

Thứ nhất, đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch xanh. Tiến hành quy hoạch và xây dựng hệ thống cầu tàu du lịch dân sinh đạt chuẩn an toàn tại 3 cụm làng chài hạt nhân gồm Hàm Ninh, Bãi Thơm và Hòn Thơm; lắp đặt hệ thống phao neo nổi chuyên dụng nhằm chấm dứt hoàn toàn việc thả neo phá hủy rạn san hô; xây dựng hệ thống thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tập trung đạt mục tiêu giảm 60% rác thải xả thẳng ra biển trước năm 2020. Chủ thể thực hiện: UBND huyện Phú Quốc chủ trì, phối hợp với Sở Giao thông Vận tải và Sở Xây dựng tỉnh Kiên Giang.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác đào tạo và nâng cao năng lực nguồn nhân lực bản địa. Tổ chức các lớp tập huấn ngắn hạn từ 7 đến 15 ngày về kỹ năng tiếp đón khách homestay, kỹ năng cứu hộ cứu nạn trên biển, văn hóa giao tiếp và an toàn vệ sinh thực phẩm cho ít nhất 300 lao động địa phương giai đoạn 2018 - 2020. Chủ thể thực hiện: Ban quản lý Khu bảo tồn biển Phú Quốc phối hợp cùng các trường đào tạo nghề du lịch và doanh nghiệp lữ hành.

Thứ ba, thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng và vận hành Quỹ phát triển du lịch cộng đồng. Ban hành quy chế trích nộp từ 5% đến 10% doanh thu của các đơn vị khai thác dịch vụ trong khu bảo tồn vào quỹ chung nhằm tái đầu tư nâng cấp đường sá, trạm y tế và hỗ trợ nguồn vốn vay lãi suất ưu đãi cho 100 hộ dân chuyển đổi sang làm dịch vụ du lịch giai đoạn 2018 - 2022. Chủ thể thực hiện: Ban quản lý Khu bảo tồn phối hợp UBND các xã ven biển và Hiệp hội Du lịch.

Thứ tư, xúc tiến quảng bá và đa dạng hóa chuỗi sản phẩm du lịch đặc thù. Xây dựng 4 tuyến du lịch trải nghiệm sinh thái kết hợp giáo dục môi trường (lặn ngắm san hô có người giám sát, tìm hiểu thảm cỏ biển, trải nghiệm làm ngư dân 24 giờ); đẩy mạnh chuyển đổi số trong quảng bá sản phẩm để tiếp cận trên 500.000 lượt khách mục tiêu mỗi năm. Chủ thể thực hiện: Trung tâm Xúc tiến Đầu tư Thương mại Du lịch Kiên Giang cùng các công ty lữ hành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kiên Giang, cùng Ban quản lý Khu bảo tồn biển Phú Quốc và các khu bảo tồn biển khác trên toàn quốc. Luận văn cung cấp khung phân tích DPSIR và hệ thống giải pháp phân vùng quy hoạch làm căn cứ hoạch định chính sách quản lý tài nguyên bền vững.

Thứ hai, các doanh nghiệp lữ hành và các nhà đầu tư dịch vụ du lịch biển đảo. Dữ liệu phân tích hành vi và thị hiếu của 120 du khách trong luận văn giúp các công ty thiết kế các tour du lịch sinh thái độc đáo, kết nối trực tiếp chuỗi cung ứng dịch vụ với cư dân bản địa theo nguyên tắc hợp tác cùng có lợi.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học, sinh viên và các chuyên gia nghiên cứu chuyên ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Quản lý Môi trường, Kinh tế Phát triển. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp định tính - định lượng và kinh nghiệm ứng dụng mô hình du lịch cộng đồng quốc tế vào điều kiện Việt Nam.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ (NGO) hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn biển và cộng đồng cư dân ven biển. Tài liệu cung cấp góc nhìn thực tiễn về phương thức tổ chức tổ hợp tác du lịch, các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn homestay và lộ trình chuyển đổi sinh kế giảm phụ thuộc vào khai thác tự nhiên.

Câu hỏi thường gặp

Du lịch cộng đồng mang lại lợi ích gì cho công tác bảo tồn biển Phú Quốc?

Du lịch cộng đồng tạo ra nguồn thu nhập thay thế ổn định cho ngư dân với mức tăng từ 15% đến 25%, giúp giảm thiểu trực tiếp từ 30% đến 40% áp lực đánh bắt hải sản bằng các phương thức tận diệt. Khi được trao quyền và hưởng lợi từ du lịch, chính người dân sẽ trở thành lực lượng tích cực nhất tham gia tuần tra, bảo vệ rạn san hô và các thảm cỏ biển quý hiếm.

Mô hình DPSIR được ứng dụng như thế nào trong đề tài nghiên cứu này?

Mô hình DPSIR đóng vai trò là khung phân tích logic giúp nhận diện 5 mắt xích tương tác: Động lực phát triển kinh tế (D), Sức ép từ rác thải và đánh bắt tận diệt (P), Hiện trạng suy thoái rạn san hô (S), Tác động tiêu cực đến sinh kế và môi trường (I), từ đó đưa ra các Phản hồi chính sách và giải pháp kỹ thuật phù hợp (R) cho Khu bảo tồn biển Phú Quốc.

Rào cản lớn nhất của ngư dân Phú Quốc khi tham gia làm du lịch là gì?

Khảo sát thực địa trên 80 hộ dân chỉ ra rằng hơn 81,5% hộ gia đình thiếu hụt nguồn vốn đầu tư ban đầu và hạn chế về kỹ năng nghề du lịch chuẩn mực như ngoại ngữ, giao tiếp, chế biến ẩm thực an toàn. Ngoài ra, việc thiếu một tổ chức đại diện cộng đồng để liên kết với các công ty lữ hành lớn cũng là một rào cản đáng kể.

Doanh nghiệp lữ hành có vai trò gì trong mô hình phát triển du lịch cộng đồng?

Doanh nghiệp lữ hành giữ vai trò cầu nối thiết yếu giữa cung và cầu, đưa khách du lịch đến các điểm đến làng chài theo các tuyến tour định sẵn. Doanh nghiệp còn tham gia hỗ trợ tư vấn nâng cao chất lượng dịch vụ, bao tiêu sản phẩm lưu niệm đặc trưng và cam kết trích nộp từ 5% đến 10% lợi nhuận vào Quỹ cộng đồng địa phương.

Kinh nghiệm quốc tế nào phù hợp nhất để áp dụng cho các làng chài Phú Quốc?

Mô hình Homestay của Malaysia là bài học phù hợp nhất cho Phú Quốc, thông qua chính sách hỗ trợ vốn ban đầu khoảng 5.000 RM cho mỗi hộ gia đình cải tạo công trình vệ sinh và tổ chức các khóa tập huấn nghiệp vụ bắt buộc kéo dài 7 ngày. Cách làm này giúp chuẩn hóa chất lượng đón khách mà vẫn giữ nguyên bản sắc văn hóa làng chài.

Kết luận

  • Đề tài đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng và xác lập thành công khung phân tích DPSIR ứng dụng cho khu bảo tồn biển đảo có tính đa dạng sinh học cao.
  • Phân tích thực chứng trên 250 mẫu điều tra chỉ ra bức tranh xung đột sâu sắc giữa sinh kế truyền thống của hơn 80% hộ dân ven biển với yêu cầu cấp bách về bảo tồn tài nguyên sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao, bao gồm nâng cấp hạ tầng du lịch xanh, đào tạo kỹ năng nghề cho 300 lao động, thiết lập Quỹ bảo tồn cộng đồng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch trải nghiệm văn hóa.
  • Xác định lộ trình triển khai chi tiết qua 2 giai đoạn: ngắn hạn (2018 - 2020) tập trung vào thí điểm mô hình và trung hạn (2021 - 2025) để nhân rộng trên toàn địa bàn các xã đảo.
  • Kêu gọi sự chung tay phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền tỉnh Kiên Giang, cộng đồng doanh nghiệp và người dân địa phương nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển Phú Quốc thành trung tâm du lịch sinh thái biển chất lượng cao, bền vững của khu vực và quốc tế.