Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Giải pháp phát triển du lịch bền vững Tây Nguyên" do nghiên cứu sinh Nguyễn Đức Tuy thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, chuyên ngành Kinh tế Phát triển (mã số 62.05), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Đàm Văn Nhuệ (hướng dẫn chính) và TS. Bùi Trường Giang (hướng dẫn phụ), bảo vệ năm 2014.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Phát triển bền vững là xu thế của xã hội, được Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đưa ra tại Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc tại Rio de Janeiro (1992) và khẳng định lại tại Johannesburg (2002), đặt ra yêu cầu kết hợp hài hòa giữa ba khía cạnh: kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Tại Việt Nam, chủ trương này được cụ thể hóa qua Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1991-2000, Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg, Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, cùng Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, trong đó xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn gắn chặt với bảo tồn văn hóa, bảo vệ môi trường, quốc phòng và an ninh.
Vùng Tây Nguyên sở hữu vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, văn hóa và lịch sử thuận lợi, song hoạt động du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Tài nguyên du lịch chưa được khai thác hợp lý và thiếu gắn kết với công tác bảo tồn, tôn tạo. Hoạt động du lịch phát triển không đồng đều giữa các địa phương trong vùng; sản phẩm du lịch đơn điệu, thiếu khác biệt; các hoạt động liên kết phát triển chưa được triển khai đầy đủ. Thu nhập từ du lịch của vùng Tây Nguyên ở mức thấp, chỉ chiếm khoảng 4,3% tổng thu nhập du lịch của cả nước; nguồn thu của dân cư địa phương còn manh mún. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực phục vụ du lịch thiếu hụt và chất lượng chưa cao; môi trường sinh thái chịu nhiều tác động tiêu cực do tình trạng phá rừng, các danh thắng thác, hồ bị khô nước hoặc ô nhiễm do xung đột lợi ích với các ngành kinh tế khác. Xuất phát từ thực tế đó, luận án lựa chọn nghiên cứu giải pháp phát triển du lịch Tây Nguyên theo hướng bền vững.
Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá và dự báo các chiều hướng của bối cảnh quốc tế, khu vực (gồm tiểu vùng sông Mê Kông, Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia, Hành lang kinh tế Đông - Tây) và bối cảnh trong nước đến năm 2020 tác động đến du lịch Tây Nguyên.
- Định vị sự phát triển của du lịch Tây Nguyên theo quan điểm phát triển bền vững dựa trên lợi thế so sánh đặc thù của vùng trong tương quan với các vùng khác trên cả nước.
- Đề xuất định hướng và hệ thống các nhóm giải pháp, cơ chế chính sách phát triển du lịch bền vững vùng Tây Nguyên đến năm 2020.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Ngành du lịch, phát triển du lịch bền vững vùng và các yếu tố liên quan đến phát triển du lịch bền vững tại địa bàn Tây Nguyên.
- Phạm vi không gian: Hoạt động du lịch và các ngành liên quan trên địa bàn 5 tỉnh Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng), đồng thời mở rộng nghiên cứu liên kết với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và vùng Đông Nam Bộ.
- Phạm vi thời gian: Phân tích thực trạng phát triển du lịch vùng Tây Nguyên giai đoạn 2002 - 2012; xây dựng định hướng và giải pháp phát triển đến năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Tác giả dẫn số liệu của Lucian Cernat và Julien Gourdon (2007) cho biết đến năm 1999 đã có hơn 100 cuốn sách và 250 bài báo quốc tế nghiên cứu về du lịch bền vững. Luận án điểm lại các công trình tiêu biểu:
- Tourism and sustainable community development của Greg Richards và Derek R. Hall (2000): Nghiên cứu trường hợp tại khu phố cổ Edinburgh, vùng nông thôn Bắc Bồ Đào Nha và các bãi biển Indonesia; giải quyết mối quan hệ hai chiều giữa cộng đồng địa phương và du lịch bền vững.
- Tourism development and environment: beyond sustainability? của Sharpley (2009): Phân tích tiến trình phát triển của khái niệm du lịch bền vững trong học thuật và chính sách, chỉ ra giới hạn của các mô hình du lịch hiện hành và đề xuất phương pháp tiếp cận duy trì tính bền vững môi trường.
- Is the concept of sustainable development – developing sustainable development benchmarking tool của Lucian Cernat và Julien Gourdon (2007): Giới thiệu công cụ chuẩn về du lịch bền vững (STBT - The Sustainable Tourism Benchmarking Tool) để lượng hóa tính bền vững qua 4 chiều cạnh: kinh tế, xã hội và sinh thái, hạ tầng và sức hút.
- Các tài liệu định nghĩa và nguyên tắc của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP, 2004) và Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO, 2005, 2007).
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
Luận án khảo cứu nhóm luận án tiến sĩ kinh tế đã bảo vệ:
- Luận án của Trần Sơn Hải: Nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ - Tây Nguyên.
- Luận án của Nguyễn Duy Mậu (2011): Phát triển du lịch Tây Nguyên đến năm 2020 đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Tác giả hệ thống hóa 13 loại hình du lịch, phân tích chuỗi giá trị và đề xuất 7 định hướng, 9 giải pháp, nhưng chưa phân tích mức độ bền vững dựa trên các trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường và chưa giải quyết sâu vấn đề liên kết vùng.
- Luận án của Trần Tiến Dũng (2007): Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại khu vực cụ thể là Phong Nha - Kẻ Bàng.
- Luận án của Nguyễn Tấn Vinh (2008): Đi sâu vào hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch trên phạm vi tỉnh Lâm Đồng.
- Luận án của Phan Ngọc Thắng (2010): Phân tích phát triển du lịch gắn với mục tiêu xóa đói giảm nghèo tại Lào Cai.
- Luận án của Hoàng Thị Lan Hương (2011): Nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động kinh doanh lưu trú tại vùng du lịch Bắc Bộ.
Bên cạnh đó, tác giả khảo cứu các bài viết kỷ yếu hội thảo khoa học:
- Bài viết của PGS.TS. Nguyễn Kim Lợi về liên kết phát triển giữa Khu du lịch sinh thái quốc gia Măng Đen với các khu du lịch miền Trung và Tây Nguyên.
- Bài viết của TS. Hoàng Ngọc Phong về vai trò của Khu du lịch Măng Đen trên Hành lang kinh tế Đông - Tây và Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia.
- Bài viết của TS. Trương Sỹ Vinh về các giải pháp liên kết hợp tác phát triển Khu du lịch Măng Đen theo quy hoạch đến năm 2030.
- Bài viết của TS. Vũ Tuấn Anh về khai thác tiềm năng thiên nhiên và văn hóa để phát triển du lịch cộng đồng tại Măng Đen.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
Các công trình trong nước chủ yếu tiếp cận theo từng lĩnh vực riêng lẻ (nhân lực, lưu trú, quản lý nhà nước ở một địa phương) hoặc tập trung mục tiêu tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Chưa có công trình nào đánh giá toàn diện sự phát triển của du lịch Tây Nguyên ở quy mô cấp vùng trên sự tương tác của 4 trụ cột: kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường; đồng thời chưa có hệ thống tiêu chí định lượng đánh giá tính bền vững và chưa giải quyết thấu đáo vấn đề liên kết vùng nội bộ cũng như ngoại vùng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm
- Khái niệm du lịch: Luận án tiếp thu định nghĩa của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội): Du lịch là ngành kinh doanh bao gồm tổ chức hướng dẫn, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí của khách du lịch, mang lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội cho doanh nghiệp và địa phương đón khách. Sản phẩm du lịch có tỷ trọng dịch vụ vô hình chiếm khoảng 90% (theo ISO 9004:1991), được đo lường bởi 5 tiêu chí: sự tin cậy, tinh thần trách nhiệm, sự bảo đảm, sự đồng cảm và tính hữu hình.
- Khái niệm phát triển du lịch bền vững: Tác giả định nghĩa phát triển du lịch bền vững là quá trình phát triển chú trọng đồng thời trên cả 4 mặt: kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường, dựa trên việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị văn hóa, tài nguyên du lịch, tạo môi trường chính trị - xã hội ổn định phục vụ nhu cầu hiện tại và tương lai.
- Khung liên kết vùng: Áp dụng mô hình phân vùng du lịch Việt Nam theo Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ (xác định Tây Nguyên là 1 trong 7 vùng du lịch). Khung phân tích xác định sự tham gia của 10 bên liên quan trong liên kết du lịch: (1) Doanh nghiệp, nhà đầu tư du lịch; (2) Các hiệp hội thương mại; (3) Chính phủ và bộ ngành trung ương; (4) Chính quyền địa phương các cấp; (5) Các cơ quan hỗ trợ quốc tế và tổ chức phi chính phủ quốc tế; (6) Các tổ chức phi chính phủ trong nước; (7) Cơ sở giáo dục và cộng đồng khoa học; (8) Dân cư và cộng đồng địa phương; (9) Khách du lịch; (10) Các cơ quan truyền thông. Khung hành động đối chiếu với 12 mục tiêu bền vững của UNEP và UNWTO (2007).
- Bộ tiêu chí đánh giá du lịch bền vững của luận án: Tác giả tinh giản bộ tiêu chí quốc tế thành 4 nhóm với 9 chỉ tiêu cụ thể:
- Nhóm kinh tế: (1) Tăng trưởng thu nhập du lịch đều đặn qua nhiều năm; (2) Lượng khách du lịch tăng trưởng liên tục qua các năm.
- Nhóm chính trị: (3) Mức độ thân thiện của chính quyền và nhân dân địa phương với khách du lịch; (4) Chính sách quản lý nhà nước về du lịch bền vững; (5) Công tác an ninh, trật tự xã hội tại địa phương.
- Nhóm xã hội: (6) Tỷ lệ lao động làm việc trong ngành du lịch và thu nhập của người dân từ du lịch; (7) Tỷ lệ các giá trị văn hóa, lịch sử được bảo tồn, phát huy.
- Nhóm môi trường: (8) Tỷ lệ tài nguyên du lịch tự nhiên được bảo tồn khi khai thác; (9) Tỷ lệ các điểm du lịch có hệ thống thu gom, xử lý rác thải.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích hệ thống và tài liệu thứ cấp: Kế thừa văn bản quy phạm pháp luật, số liệu từ Niên giám thống kê, báo cáo của Tổng cục Du lịch và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch 5 tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2000 - 2012.
- Phương pháp điều tra thực địa: Thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu trực tiếp trên thực địa đối với 250 du khách (gồm khách quốc tế và khách nội địa) tại 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Nội dung điều tra thu thập thông tin về xuất xứ, mục đích chuyến đi, mức độ ưa chuộng sản phẩm, đánh giá chất lượng dịch vụ và mức độ hài lòng về tính bền vững.
- Phương pháp phân tích ma trận SWOT: Tổng hợp các yếu tố môi trường bên trong (điểm mạnh, điểm yếu) và môi trường bên ngoài (cơ hội, thách thức) để định hình các phương án chiến lược kết hợp (S-O, S-T, W-O, W-T).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững
Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về du lịch và du lịch bền vững. Tác giả phân loại điểm hấp dẫn du lịch thành 4 nhóm: điểm địa lý/cảnh quan, điểm sinh thái - sinh học, điểm văn hóa - lịch sử và điểm giải trí. Luận án phân tích xu hướng phát triển của cầu du lịch (chuyển dịch luồng khách về khu vực châu Á - Thái Bình Dương, cơ cấu chi tiêu tăng tỷ trọng dịch vụ bổ sung, gia tăng hình thức du lịch tự do) và xu thế của cung du lịch (mở rộng sản phẩm sinh thái cộng đồng, ứng dụng công nghệ thông tin).
Về mặt kinh tế - xã hội, luận án chỉ ra ngành du lịch vận hành như hình thức xuất khẩu tại chỗ; số liệu viện dẫn cho thấy trung bình 1 phòng khách sạn (tiêu chuẩn 1 đến 5 sao) tạo ra 1,3 chỗ làm việc trực tiếp và 5 chỗ làm việc gián tiếp. Tác giả đi sâu phân tích 4 nhóm yếu tố tác động đến du lịch bền vững: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và môi trường; đồng thời xây dựng mô hình liên kết 10 bên liên quan dựa trên 12 mục tiêu phát triển bền vững của UNWTO/UNEP.
Phần kinh nghiệm thực tiễn phân tích bài học quốc tế từ:
- Thành phố Kyoto (Nhật Bản): Bảo tồn không gian di sản kiến trúc cổ và phân luồng du khách gắn với ý thức cộng đồng.
- Thành phố Madrid (Tây Ban Nha): Phát triển hạ tầng dịch vụ đô thị và xúc tiến du lịch chuyên nghiệp.
- Khu sinh thái rừng mưa Chilamate (Nam Mỹ): Mô hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng và bảo vệ đa dạng sinh học rừng mưa nhiệt đới.
Kinh nghiệm trong nước được đúc kết qua mô hình quản lý đô thị di sản tại thành phố Hội An (Quảng Nam) và mô hình du lịch cộng đồng dân tộc Thái tại Bản Lác, huyện Mai Châu (tỉnh Hòa Bình). Tác giả rút ra các bài học về sự đồng thuận của người dân bản địa, chia sẻ lợi ích kinh tế công bằng và sự hỗ trợ thể chế từ chính quyền địa phương.
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch bền vững trên địa bàn Tây Nguyên
Chương 2 trình bày tổng quan điều kiện kinh tế - xã hội, hệ thống hạ tầng kỹ thuật (giao thông, viễn thông, y tế, ngân hàng) và phân tích thực trạng phát triển du lịch của 5 tỉnh Tây Nguyên qua các dữ liệu giai đoạn 2000 - 2012.
| Danh mục bảng biểu phản ánh thực trạng trong luận án |
Vị trí trang |
Nội dung dữ liệu phản ánh |
| Bảng 2.1 |
Trang 52 |
Một số thông số cơ bản của khu vực Tây Nguyên |
| Bảng 2.2 |
Trang 53 |
Số lượng đơn vị hành chính 5 tỉnh ở vùng Tây Nguyên |
| Bảng 2.3 |
Trang 61 |
Số lượng khách quốc tế đến Tây Nguyên (2000 - 2012) |
| Bảng 2.4 |
Trang 62 |
Số lượng khách của một số thị trường quốc tế đến Tây Nguyên |
| Bảng 2.5 |
Trang 63 |
Các thị trường khách quốc tế đến các tỉnh Tây Nguyên (năm 2012) |
| Bảng 2.6 |
Trang 64 |
Số lượng khách nội địa đến các tỉnh Tây Nguyên (2000 - 2012) |
| Bảng 2.7 |
Trang 65 |
Thị trường khách nội địa đến các tỉnh Tây Nguyên (năm 2012) |
| Bảng 2.8 |
Trang 66 |
Tổng thu nhập du lịch Tây Nguyên, giai đoạn 2005 - 2012 |
| Bảng 2.9 |
Trang 67 |
Cơ cấu tổng thu nhập từ du lịch vùng Tây Nguyên (2005 - 2012) |
| Bảng 2.10 |
Trang 68 |
Cơ sở lưu trú du lịch các tỉnh Tây Nguyên (2000 - 2012) |
| Bảng 2.11 |
Trang 68 |
Hạng cơ sở lưu trú du lịch vùng Tây Nguyên |
| Bảng 2.12 |
Trang 75 |
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) |
| Bảng 2.13 |
Trang 84 |
Di tích lịch sử cấp Quốc gia trên địa bàn Tây Nguyên |
| Bảng 2.14 |
Trang 85 |
Lao động du lịch các tỉnh vùng Tây Nguyên (2005 - 2011) |
| Bảng 2.15 |
Trang 96 |
Tỷ lệ khách du lịch quốc tế đến các tỉnh qua phỏng vấn |
| Bảng 2.16 |
Trang 101 |
Đánh giá thực trạng chất lượng và tính bền vững qua phỏng vấn |
| Bảng 2.17 |
Trang 107 |
Ma trận SWOT du lịch bền vững Tây Nguyên |
Thực trạng phát triển được đánh giá qua 4 khía cạnh:
- Kinh tế: Lượng khách du lịch và thu nhập có tăng trưởng nhưng quy mô nhỏ, nguồn thu chỉ chiếm 4,3% tổng thu du lịch cả nước. Lâm Đồng chiếm tỷ trọng áp đảo về doanh thu và cơ sở lưu trú, tạo sự chênh lệch lớn với Đắk Nông và Kon Tum. Cơ sở lưu trú cao cấp (3-5 sao) còn thiếu hụt trầm trọng.
- Chính trị và thể chế: Quản lý nhà nước ở các tỉnh còn phân tán, các cơ chế khuyến khích đầu tư chưa đồng bộ; chỉ số PCI giữa các tỉnh biến động không đều; an ninh trật tự khu vực biên giới và buôn làng đòi hỏi sự kiểm soát nghiêm ngặt.
- Văn hóa - xã hội: Tây Nguyên có hệ thống di tích quốc gia phong phú (Bảng 2.13) cùng không gian văn hóa cồng chiêng, nhưng việc khai thác còn nghèo nàn, chưa tạo thành sản phẩm hàng hóa đặc trưng. Tỷ lệ lao động du lịch qua đào tạo chuyên môn còn thấp, phần lớn là lao động phổ thông (Bảng 2.14).
- Môi trường: Nạn phá rừng, suy giảm tài nguyên nước ngầm và biến đổi cảnh quan tại các thác nước tự nhiên do thủy điện và khai khoáng làm tổn hại nghiêm trọng đến môi trường sinh thái. Công tác thu gom, xử lý rác thải tại các điểm du lịch tự nhiên chưa đạt yêu cầu.
Kết quả điều tra thực địa 250 phiếu (Bảng 2.15 và Bảng 2.16) cho thấy du khách đánh giá cao sự thân thiện của người dân và cảnh quan thiên nhiên hoang sơ, nhưng bày tỏ mức độ hài lòng thấp đối với chất lượng vệ sinh môi trường, hạ tầng giao thông kết nối, sản phẩm vui chơi giải trí ban đêm và tính chuyên nghiệp của hướng dẫn viên.
Ma trận SWOT (Bảng 2.17) xác định rõ:
- Điểm mạnh (S): Khí hậu ôn đới/cao nguyên đặc trưng (Đà Lạt, Măng Đen); tài nguyên sinh thái rừng và thác nước đa dạng; bản sắc văn hóa các dân tộc bản địa đặc sắc.
- Điểm yếu (W): Hạ tầng giao thông đối ngoại yếu kém; liên kết chuỗi sản phẩm liên tỉnh chưa hình thành; nguồn nhân lực thiếu kỹ năng; thu hút đầu tư du lịch còn manh mún.
- Cơ hội (O): Nằm trên trục kết nối Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia; các tuyến đường xuyên Á và chính sách ưu tiên phát triển Tây Nguyên của Chính phủ.
- Thách thức (T): Xung đột sử dụng tài nguyên giữa lâm nghiệp, nông nghiệp, thủy điện và du lịch; nguy cơ xói mòn bản sắc văn hóa truyền thống; vấn đề an ninh chính trị tiềm ẩn.
Chương 3: Đề xuất giải pháp phát triển du lịch bền vững Tây Nguyên đến năm 2020
Chương 3 xây dựng hệ thống giải pháp dựa trên bối cảnh hội nhập quốc tế, tiểu vùng sông Mê Kông, Tam giác phát triển và định hướng không gian lãnh thổ du lịch:
- Định hướng không gian, thị trường và sản phẩm: Phân định không gian du lịch Tây Nguyên theo các cực tăng trưởng (Đà Lạt - Buôn Ma Thuột - Pleiku - Kon Tum - Gia Nghĩa); kết nối tuyến du lịch "Con đường xanh Tây Nguyên" và các tuyến hành lang Đông - Tây kết nối với duyên hải miền Trung (Quốc lộ 19, 24, 26, 27). Định hướng dòng khách quốc tế chú trọng thị trường Tây Âu, Bắc Mỹ, Đông Bắc Á và ASEAN; thị trường nội địa tập trung vào du khách từ Đông Nam Bộ, Hà Nội và Duyên hải miền Trung.
- Nhóm giải pháp bền vững về kinh tế: Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư hạ tầng du lịch theo các hình thức BOT, BTO, BT; phát triển sản phẩm du lịch sinh thái nông nghiệp, cà phê, dã ngoại gắn với sản phẩm lưu niệm thủ công mỹ nghệ.
- Nhóm giải pháp ổn định chính trị, an ninh trật tự: Xây dựng quy chế phối hợp giữa công an, biên phòng và các cơ quan quản lý du lịch; bảo đảm môi trường an toàn tuyệt đối cho du khách tại các địa bàn vùng sâu, biên giới.
- Nhóm giải pháp văn hóa - xã hội: Bảo tồn di sản văn hóa vật thể (nhà rông, nhà dài, kiến trúc cổ) và phi vật thể (không gian văn hóa Cồng chiêng); đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa nghề du lịch cho cộng đồng dân tộc bản địa; bảo đảm bình đẳng giới và giải quyết việc làm tại chỗ.
- Nhóm giải pháp môi trường: Xác định sức chứa du lịch tại các vườn quốc gia (Chư Mom Ray, Kon Ka Kinh, Yok Đôn, Bidoup Núi Bà); quy chuẩn xử lý nước thải, chất thải rắn tại các điểm tham quan; kiểm soát chặt chẽ quy hoạch các dự án thủy điện, bảo vệ nguồn nước và tài nguyên rừng.
- Nhóm giải pháp hợp tác, liên kết vùng: Thành lập Ban điều phối phát triển du lịch vùng Tây Nguyên; ký kết thỏa thuận hợp tác liên kết giữa 5 tỉnh Tây Nguyên với vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam và Duyên hải miền Trung; xây dựng chương trình xúc tiến du lịch chung mang thương hiệu "Không gian đại ngàn Tây Nguyên".
- Đề xuất cơ chế, chính sách đặc thù:
- Đối với Chính phủ và các Bộ, ngành: Ưu tiên vốn ODA và ngân sách trung ương nâng cấp Quốc lộ 14 (đường Hồ Chí Minh), Quốc lộ 19, 24, nâng cấp các cảng hàng không Buôn Ma Thuột, Pleiku, Liên Khương; ban hành cơ chế ưu đãi thuế đất cho các dự án du lịch sinh thái vùng sâu, vùng xa.
- Đối với các tỉnh Tây Nguyên: Đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện chỉ số PCI, trích tỷ lệ doanh thu du lịch tái đầu tư cho bảo tồn di sản và bảo vệ môi trường.
- Đối với doanh nghiệp: Tăng cường trách nhiệm xã hội, liên kết chuỗi lữ hành - vận chuyển - lưu trú, cam kết sử dụng lao động địa phương.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về lý luận
- Luận án đã mở rộng khái niệm phát triển du lịch bền vững bằng việc xác lập khung phân tích dựa trên 4 trụ cột tương tác: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và môi trường, thay vì chỉ tiếp cận theo 3 trụ cột truyền thống (kinh tế, xã hội, môi trường).
- Xây dựng thành công khung lý thuyết về hợp tác liên kết vùng trong du lịch bền vững với sự tham gia của 10 bên đối tác gắn liền với 12 mục tiêu phát triển bền vững của UNEP/UNWTO.
- Thiết lập bộ tiêu chuẩn đánh giá tính bền vững gồm 4 nhóm với 9 chỉ tiêu thực tế, phù hợp với điều kiện thu thập số liệu và năng lực quản lý tại các địa phương Việt Nam.
Đóng góp mới về thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực trạng phát triển du lịch của 5 tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2002 - 2012 với hệ thống số liệu chi tiết về lượng khách, doanh thu, cơ sở lưu trú và lao động du lịch.
- Luận án đã thực hiện điều tra thực địa với 250 phiếu khảo sát du khách, lượng hóa mức độ hài lòng và thực trạng tính bền vững của các điểm đến tại Đắk Lắk, Gia Lai, Đắk Nông, Lâm Đồng, Kon Tum.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp liên kết nội vùng và ngoại vùng, các kiến nghị cơ chế chính sách đặc thù cho các cấp quản lý (Chính phủ, cấp vùng, cấp tỉnh và doanh nghiệp) nhằm thúc đẩy ngành du lịch Tây Nguyên phát triển đến năm 2020.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Quy mô mẫu điều tra thực địa dừng ở mức 250 du khách, phương pháp thu thập chủ yếu dựa trên kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp tại một số điểm tham quan chính, do đó tính đại diện đối với toàn bộ các phân khúc du khách chưa đạt mức tối đa. Dữ liệu thứ cấp phân tích thực trạng chủ yếu phản ánh giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2012. Khung liên kết vùng mới dừng ở việc đề xuất cơ chế hoạt động của ban điều phối chứ chưa có điều kiện thực nghiệm mô hình kinh tế lượng để đo lường định lượng đóng góp cụ thể của liên kết vùng vào tốc độ tăng trưởng GDP du lịch.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô điều tra thực địa trên mẫu lớn hơn đối với cả cư dân địa phương và các doanh nghiệp du lịch; ứng dụng các mô hình định lượng (như mô hình cân bằng tổng thể CGE hoặc bảng cân đối liên ngành I-O) để tính toán chính xác hiệu ứng lan tỏa của du lịch Tây Nguyên sang các ngành kinh tế khác và lượng hóa giá trị kinh tế của dịch vụ hệ sinh thái rừng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên và Ủy ban nhân dân 5 tỉnh Tây Nguyên có thể tham khảo các định hướng phân vùng không gian du lịch, khung liên kết 10 bên và các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm hoàn thiện quy hoạch ngành du lịch đến năm 2020.
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật và khung lý luận về phát triển du lịch bền vững 4 trụ cột, bộ tiêu chí đánh giá đơn giản hóa và phương pháp thiết lập ma trận SWOT trong kinh tế du lịch.
- Giảng viên và các viện nghiên cứu: Dùng làm học liệu giảng dạy các chuyên đề về Kinh tế Phát triển, Kinh tế Du lịch, Quản lý Vùng và Quy hoạch Lãnh thổ.
- Doanh nghiệp du lịch, lữ hành: Tham khảo các phân tích về xu hướng thị trường khách quốc tế, nội địa và các tuyến du lịch tiềm năng (Con đường xanh Tây Nguyên, Tam giác phát triển) để xây dựng tour tuyến phù hợp.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định phát triển du lịch bền vững dựa trên những trụ cột nào?
Luận án xác định phát triển du lịch bền vững dựa trên sự kết hợp và tương tác chặt chẽ của 4 trụ cột: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và môi trường, đồng thời gắn liền với công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị văn hóa, tài nguyên du lịch.
2. Tỷ trọng thu nhập du lịch Tây Nguyên đóng góp vào tổng thu nhập du lịch cả nước trong giai đoạn nghiên cứu là bao nhiêu?
Theo số liệu phân tích của luận án trong phần thực trạng, tổng thu nhập từ hoạt động du lịch của vùng Tây Nguyên ở mức rất thấp, chỉ chiếm khoảng 4,3% tổng thu nhập du lịch của cả nước, đồng thời có sự phân hóa lớn giữa các địa phương trong vùng (Lâm Đồng chiếm tỷ trọng chủ yếu).
3. Khảo sát thực địa của luận án được thực hiện với quy mô mẫu bao nhiêu và tại những địa phương nào?
Nghiên cứu sinh đã tổ chức điều tra thực địa bằng bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu đối với 250 du khách (bao gồm cả khách quốc tế và khách nội địa) tại địa bàn cả 5 tỉnh Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng.
4. Khung lý thuyết liên kết vùng trong luận án xác định sự tham gia của bao nhiêu bên đối tác?
Luận án xác định sự tham gia của 10 bên liên quan trong liên kết phát triển du lịch bền vững vùng Tây Nguyên: doanh nghiệp/nhà đầu tư; hiệp hội thương mại; Chính phủ và các cơ quan trung ương; chính quyền địa phương; cơ quan phát triển quốc tế và NGO quốc tế; NGO trong nước; cơ sở giáo dục và cộng đồng khoa học; cộng đồng dân cư địa phương; khách du lịch; và các cơ quan truyền thông.
5. Luận án đề xuất những hành lang du lịch liên kết ngoại vùng trọng điểm nào cho Tây Nguyên?
Luận án định hướng xây dựng các tuyến du lịch dọc theo các quốc lộ kết nối Tây Nguyên với Duyên hải miền Trung (Quốc lộ 19, 24, 26, 27), kết nối Đông Nam Bộ qua Quốc lộ 14 và Quốc lộ 20, khai thác ý tưởng tuyến du lịch "Con đường xanh Tây Nguyên" và tuyến du lịch xuyên biên giới trong khu vực Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Giải pháp phát triển du lịch bền vững Tây Nguyên" của tác giả Nguyễn Đức Tuy là công trình nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế Phát triển, giải quyết vấn đề tăng trưởng du lịch theo quan điểm phát triển bền vững ở quy mô cấp vùng. Tác giả đã thiết lập khung lý thuyết 4 trụ cột (kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, môi trường), xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá gồm 9 chỉ tiêu và hệ thống hóa khung liên kết 10 bên liên quan. Kết hợp phân tích số liệu thống kê giai đoạn 2000 - 2012 với khảo sát thực địa 250 du khách, luận án đã làm rõ các hạn chế nội tại của du lịch Tây Nguyên và đề xuất hệ thống giải pháp, cơ chế chính sách khả thi nhằm thúc đẩy du lịch vùng phát triển bền vững đến năm 2020.