đặt vấn đề của công trình này giúp chúng ta liên hệ đến mối quan hệ biện chứng giữa các cộng đồng dân tộc tại chỗ và ngành du lịch ở Tây Nguyên, từ đó, tìm kiếm các giải pháp khả thi nhằm tạo điều kiện để các cộng đồng được tham gia và hưởng lợi nhiều hơn từ các hoạt động du lịch. Công trình Phát triển du lịch và môi trường: phía bên kia tính bền vững (Tourism development and environment: beyond sustainability?) của Sharpley (2009): Sau khi điểm lại diễn tiến nội dung của khái niệm du lịch bền vững trong các công trình hàn lâm và các qui trình chính sách trong các thập niên gần đây và chỉ ra giới hạn của các mô hình du lịch đương thời, tác giả đề xuất một phương pháp tiếp cận khác cho phép duy trì được tính bền vững về môi trường – cái được xem là điều kiện tiên 5 quyết của du lịch bền vững. Công trình này cung cấp các quan điểm khác nhau về khái niệm du lịch bền vững và mối quan hệ giữa bền vững du lịch và bền vững môi trường. Công trình Phát triển bền vững là gì? Xây dựng bộ công cụ chuẩn về phát triển bền vững (Is the concept of sustainble development – developing sustainable development benchmarking tool) của Lucian Cernar và Julien Gourdon (2007): Mục đích của các tác giả là đưa ra một phương pháp thống nhất để đánh giá du lịch bền vững căn cứ trên các chỉ số định lượng.
Phương pháp này được gọi là công cụ chuẩn về du lịch bền vững (The sustainable tourism benchmarking tool – viết tắt là STBT). STBT đánh giá tính bền vững của du lịch dưới 4 lĩnh vực (dimension): bền vững về kinh tế (được phản ánh qua 3 phương diện: tài nguyên du lịch, hoạt động du lịch, liên kết du lịch), bền vững về xã hội và sinh thái, bền vững về hạ tầng và sức hút. Để đánh giá được độ bền vững trong mỗi lĩnh vực nêu trên, các tác giả lần lượt nêu ra các chỉ số tương ứng để lượng hóa thông tin. Ví dụ, đối với vấn đề tài nguyên du lịch, vận dụng phương pháp STBT, người ta tính toán được chính xác số lượng các điểm du lịch tự nhiên và các điểm du lịch văn hóa của một khu vực cụ thể, qua đó đánh giá được quy mô và tiềm năng du lịch của địa bàn đó.
Phương pháp STBT là một tham khảo hữu ích để tác giả bản luận án này phân tích, đánh giá tính bền vững của du lịch Tây Nguyên thông qua các chỉ số tương ứng. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam a. Các luận án Tiến sĩ kinh tế đã bảo vệ thành công (1) Đề tài: "Phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch khu vực duyên hải Nam Trung Bộ - Tây Nguyên" của Trần Sơn Hải Luận án nêu lên được điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực duyên hải Nam Trung bộ và Tây nguyên, làm nổi bật tiềm năng du lịch vùng. Tác giải đã tổ chức điều tra xã hội học về thực trạng nguồn nhân lực, từ đó đi sâu phân tích những nguyên nhân và đề ra giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ và Tây nguyên.
Luận án cũng đã nêu lên kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực du lịch của một số quốc gia để làm cơ sở định hướng của Luận án. Tuy nhiên, Luận án chỉ đi sâu phân tích một lĩnh vực về phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch, đây chỉ là một trong những điều kiện cơ bản để phát triển du lịch bền vững. Luận án "Phát triển du lịch Tây Nguyên đến năm 2020 đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế" (2011) của Nguyễn Duy Mậu. Tác giả đã hệ thống hóa các khái niệm về du lịch, thị trường du lịch, chức năng và phân loại các thị trường du lịch; đồng thời luận án đưa ra 13 loại hình du lịch phổ biến hiện nay trên thế giới; làm rõ sản phẩm du lịch và mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch hấp dẫn với sản phẩm du lịch hấp dẫn và thị trường du lịch hấp dẫn.
Phân tích kênh phân phối sản phẩm lữ hành và hệ thống các doanh nghiệp lữ hành tại thị trường nhận khách và gởi khách, vận dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam. Làm rõ những lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về dịch vụ, du lịch làm cơ sở lý luận cho định hướng phát triển du lịch. Phân tích vai trò của du lịch đối với tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các tác động tới ngành kinh tế, xã hội khác. Tác động giữa hội nhập kinh tế quốc tế và du lịch, những yêu cầu nhằm đáp ứng phát triển du lịch trong tiến trình hội nhập.
Luận án làm rõ khái niệm, mục tiêu, nội dung và điều kiện phát triển du lịch bền vững. Đánh giá toàn diện tiềm năng và cơ sở phát triển du lịch, vị trí, vai trò và lợi thế của du lịch Tây Nguyên trong phát triển vùng và quốc gia. Làm rõ thực trạng hoạt động du lịch trên địa bàn qua lượng khách và thu nhập từ du lịch; cơ sở vật chất cho du lịch; khai thác tài nguyên du lịch phát triển các loại hình sản phẩm du lịch. Luận án đánh giá về tổ chức không gian lãnh thổ, công tác xúc tiến, quảng bá liên kết; đầu tư phát triển du lịch; đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực và cơ chế, chính sách, quản lý nhà nước về du lịch.
Đồng thời, luận án phân tích tác động của du lịch với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của du lịch Tây Nguyên. Dự báo xu hướng phát triển du lịch thế giới, khu vực và Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Luận án đề xuất bảy quan điểm phát triển, các mục tiêu và bảy định hướng để phát triển du lịch Tây Nguyên đến năm 2020.
Luận án đưa ra chín giải pháp để phát triển du lịch Tây Nguyên đến năm 2020 trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, trong luận án chưa đề cập đến yếu tố phát triển du lịch bền vững: kinh tế, xã hội và môi trường, do vậy luận án chưa làm rõ được phát triển du lịch Tây Nguyên có bền vững hay không? và bền vững ở mức độ nào?. Mặt khác, luận án cũng chưa đề cập đến vấn đề liên kết trong phát triển du lịch bền vững. Tác giả chủ yếu làm nổi bật các điều kiện về tự nhiên, kinh tế xã hội của Campuchia để phát triển du lịch; các giải pháp chủ yếu để đưa du lịch Campuchia thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Luận án đã đưa ra hệ thống các lý luận cơ bản về phát triển du lịch và những yếu tố để định giá du lịch Campuchia. (4) Luận án “Phát triển du lịch bền vững ở Phong Nha-Kẻ bàng” (2007) của Trần Tiến Dũng. Tác giả đã phân tích các quan niệm về hệ thống đánh giá về du lịch bền vững, các kinh nghiệm du lịch bền vững và không bền vững trên thế giới và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch bền vững Phong Nha-Kẻ Bàng. Đây là luận án về du lịch bền vững ở một vùng du lịch cụ thể, có tính đặc trưng.
Tuy nhiên, các quan niệm về du lịch bền vững cũng như tiêu chí đánh giá chưa được tác giả quan tâm nghiên cứu. (5) Đề tài “Hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng” (2008) của Nguyễn Tấn Vinh. Đây là luận án đi sâu về quản lý nhà nước trên địa bàn một tỉnh, hệ thống hoá các lý thuyết về quản lý nhà nước trong du lịch và phân tích thực trạng quản lý nhà nước trong du lịch, đề xuất các giải pháp mang tính khả thi. Tác giả quan tâm đến các giải pháp quản lý nhà nước trong du lịch làm cơ sở khi nghiên cứu du lịch Tây Nguyên.
(6) Đề tài “Phát triển du lịch gắn với xoá đói giảm nghèo ở Lào Cai” (2010) của Phan Ngọc Thắng. Đề tài đi sâu phân tích các lý luận về phát triển du lịch, đặc trưng của luận án là gắn với quá trình xoá đói, giảm nghèo ở một địa phương, với các giải pháp khả thi. Cơ sở lý luận của luận án và giải pháp phát triển du lịch là những điểm mới cho tác giả nghiên cứu. (7) Luận án Tiến sĩ kinh tế: “Phát triển kinh doanh lưu trú du lịch tại vùng du lịch Bắc bộ của Việt Nam” (2011) của Hoàng Thị Lan Hương.
Tác giả chủ yếu đi sâu vào phân tích kinh doanh lưu trú một lĩnh vực của kinh doanh du lịch, các giải pháp phát triển kinh doanh lưu trú là những đề xuất có giá trị khi nghiên cứu tại địa bàn Tây Nguyên. Một số bài viết được in trong các kỷ yếu hội thảo về phát triển du lịch Miền Trung, Tây Nguyên (1) Bài viết về Liên kết phát triển giữa Khu du lịch Sinh thái Quốc Gia Măng Đen với các khu du lịch khác ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên của PGS, TS Nguyễn Kim Lợi, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh nhận định: Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, mang tính liên ngành, liên vùng, phức tạp. Do đó để phát triển Khu du lịch Măng Đen trở thành khu du lịch sinh thái Quốc gia đến năm 2030, chúng ta cần có những chính sách, giải pháp đúng đắn để liên kết phát triển giữa khu du lịch sinh thái Quốc gia Măng Đen với các khu du lịch khác ở các tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên, bao gồm liên kết phát triển nguồn lực cho du lịch, liên kết tổ chức các hoạt động du lịch và liên kết bảo vệ môi trường. Ứng dụng các giải pháp liên kết du lịch vào thực tế sẽ không tránh khỏi những khó khăn, thử thách, đòi hỏi rất nhiều điều kiện cơ sở vật chất, tài chính và nỗ lực của các cơ quan quản lý trong một khoảng thời gian dài.
Do đó, để việc triển khai các giải pháp liên kết du lịch có hiệu quả, cần có sự quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất của các cấp, sự chỉ đạo sâu sát của ngành, sự vào cuộc thực sự của mỗi cán bộ quản lý và đặc biệt là tham gia, hỗ trợ nhiệt tình của mỗi người dân.