Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu về Trung tâm học tập cộng đồng tại các tỉnh miền núi phía Bắc được triển khai trong bối cảnh phong trào xây dựng xã hội học tập đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn quốc. Tính đến ngày 30/6/2007, cả nước đã thành lập và đưa vào vận hành 8.355 Trung tâm học tập cộng đồng, khẳng định vị thế của thiết chế giáo dục không chính quy trong việc nâng cao dân trí từ cơ sở. Tuy nhiên, tại khu vực miền núi phía Bắc, mô hình này bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng về năng lực điều hành của đội ngũ cán bộ, chất lượng chương trình học tập và tính bền vững của các nguồn lực hỗ trợ.

Mục tiêu trọng tâm của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục cộng đồng, phân tích toàn diện thực trạng tổ chức và năng lực quản lý của đội ngũ chủ nhiệm trung tâm, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khoa học nhằm phát triển bền vững mạng lưới giáo dục thường xuyên tại địa bàn vùng cao. Phạm vi nghiên cứu tập trung khảo sát thực địa tại 3 tỉnh trọng điểm gồm Tuyên Quang, Bắc Giang và Yên Bái trong mốc thời gian từ tháng 5/2006 đến tháng 4/2008.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi trực tiếp xử lý dữ liệu từ 927 phiếu điều tra xã hội học, cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ triển khai Luật Giáo dục năm 2005 (theo Lệnh số 11/2005/L/CTN) và Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 - 2010. Kết quả nghiên cứu đóng góp trực tiếp vào việc chuẩn hóa năng lực quản lý cho cán bộ cơ sở, củng cố tỷ lệ phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và thúc đẩy xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề tài vận dụng 2 lý thuyết quản trị và giáo dục nền tảng: Lý thuyết học tập suốt đời (Lifelong Learning) của UNESCO và Lý thuyết quản lý giáo dục hiện đại gắn liền với chu trình 4 chức năng cốt lõi gồm Kế hoạch hóa, Tổ chức, Chỉ đạo và Kiểm tra. Khung nghiên cứu xác lập mối quan hệ biện chứng giữa hiệu quả hoạt động của trung tâm với năng lực điều hành của chủ nhiệm trong môi trường kinh tế - xã hội đặc thù.

Khung phân tích tập trung làm rõ 4 khái niệm chuyên ngành:

  • Giáo dục thường xuyên và Giáo dục không chính quy: Hệ thống các chương trình học tập linh hoạt ngoài trường quy chuẩn, đáp ứng nhu cầu "cần gì học nấy" cho mọi tầng lớp nhân dân.
  • Trung tâm học tập cộng đồng: Cơ sở giáo dục tự quản cấp xã, phường, thị trấn, đóng vai trò là trường học của nhân dân lao động và trung tâm sinh hoạt văn hóa, chuyển giao kỹ thuật.
  • Năng lực quản lý của chủ nhiệm trung tâm: Tổ hợp tri thức, kỹ năng lập kế hoạch, điều phối nhân lực, chỉ đạo thực hiện và kiểm soát chất lượng các hoạt động giáo dục tại cơ sở.
  • Phát triển cộng đồng bền vững: Quá trình tăng trưởng kinh tế địa phương song hành với tiến bộ văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống của mọi thành viên trong cộng đồng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng tổng cỡ mẫu gồm 927 phiếu khảo sát điều tra xã hội học, phân bổ cho các nhóm chủ nhiệm, giáo viên thỉnh giảng và học viên tại 3 tỉnh Tuyên Quang, Bắc Giang và Yên Bái. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện (Stratified and Convenience Sampling) được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho các vùng địa hình, điều kiện kinh tế và cơ cấu dân tộc thiểu số đa dạng.

Nguồn dữ liệu thực địa được củng cố thông qua 9 cuộc họp trao đổi định hướng, 6 cuộc hội thảo khoa học tập huấn chuyên sâu và hàng chục cuộc phỏng vấn sâu với các già làng, trưởng bản, lãnh đạo Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT cùng các Trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp huyện. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê toán học kết hợp với phân tích định tính là để vừa lượng hóa chính xác các chỉ số năng lực quản lý (tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình), vừa giải thích sâu sắc các rào cản mang tính tập quán văn hóa tại địa bàn miền núi. Toàn bộ timeline nghiên cứu được thực hiện đồng bộ trong 24 tháng, từ tháng 5/2006 đến tháng 4/2008.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô mạng lưới phát triển nhanh chóng nhưng tồn tại sự mất cân đối rõ rệt giữa các vùng miền. Tính đến tháng 6/2007, cả nước đạt 8.355 trung tâm, song tốc độ phát triển và mật độ hoạt động hiệu quả tại các tỉnh miền núi phía Bắc chậm hơn khoảng 25% đến 30% so với khu vực đồng bằng và trung du.

Thứ hai, năng lực quản lý của đội ngũ chủ nhiệm trung tâm còn nhiều hạn chế nghiêm trọng. Kết quả khảo sát 927 phiếu cho thấy hơn 70% chủ nhiệm hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, trong đó trên 65% chưa từng qua đào tạo nghiệp vụ quản lý giáo dục thường xuyên. Năng lực lập kế hoạch và huy động nguồn lực xã hội hóa đạt mức thấp, có khoảng 40% đến 45% trung tâm chưa xây dựng được kế hoạch hoạt động năm mang tính khả thi.

Thứ ba, cơ sở vật chất và tài chính vận hành rơi vào tình trạng thiếu thốn kéo dài. Khoảng 85% các trung tâm tại địa bàn khảo sát không có địa điểm sinh hoạt độc lập mà phải mượn hội trường UBND xã, nhà văn hóa thôn hoặc phòng học trường phổ thông. Nguồn ngân sách cấp từ địa phương chỉ đáp ứng khoảng 10% đến 15% nhu cầu tối thiểu, phần lớn dựa vào sự tự nguyện của các đoàn thể.

Thứ tư, hiệu quả chuyển giao khoa học kỹ thuật và dạy nghề ngắn hạn bước đầu tạo ra những điển hình kinh tế thực tiễn. Nhiều mô hình mang lại giá trị gia tăng rõ rệt như nghề nuôi ba ba giống tại Yên Dũng (Bắc Giang) hay ứng dụng công nghệ sản xuất muối tinh khiết nâng giá trị sản phẩm lên gấp 3 lần so với muối thô tại Tĩnh Gia (Thanh Hóa), khẳng định vai trò thiết thực của giáo dục cộng đồng đối với đời sống nông dân.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng hoạt động kém hiệu quả bắt nguồn từ việc trung tâm là mô hình mới, chưa có danh mục đầu tư ngân sách riêng biệt từ nhà nước. Cơ chế phối hợp liên ngành giữa ngành giáo dục với các tổ chức chính trị - xã hội như Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ còn thiếu các chế tài ràng buộc cụ thể.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, mô hình Kominkan của Nhật Bản (thành lập từ năm 1946, hiện có khoảng 18.000 trung tâm, bao phủ 90% các đô thị và làng xã) hay mô hình 480 trung tâm tại Myanmar do UNESCO hỗ trợ từ năm 1994 cho thấy tính tự chủ và năng lực tự vận hành của cộng đồng là yếu tố quyết định. Tại Việt Nam, sau các giai đoạn thí điểm 1995 - 1996 tại Cao Sơn (Hòa Bình), Pó Nhung (Lai Châu), An Lập (Bắc Giang) và chương trình hỗ trợ của tổ chức NFUAJ cho 40 trung tâm tại Lai Châu, Điện Biên giai đoạn 2000 - 2003, bài toán cốt tử hiện nay là phải chuẩn hóa khung năng lực quản lý cho cán bộ cơ sở.

Trong các báo cáo chuyên sâu, dữ liệu thực trạng có thể được mô hình hóa qua biểu đồ cột thể hiện mức độ đáp ứng 4 nhóm năng lực quản lý (Kế hoạch hóa, Tổ chức, Chỉ đạo, Kiểm tra) của đội ngũ chủ nhiệm, kết hợp bảng ma trận so sánh tương quan giữa tỷ lệ cán bộ được bồi dưỡng nghiệp vụ với hiệu quả tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật tại địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa và bồi dưỡng nâng cao năng lực quản trị: Biên soạn, ban hành sổ tay nghiệp vụ hướng dẫn thành lập và vận hành bền vững trung tâm; tổ chức các khóa tập huấn định kỳ 6 tháng/lần cho 100% cán bộ ban chủ nhiệm, phấn đấu đến năm 2010 có trên 80% chủ nhiệm đạt chuẩn nghiệp vụ quản lý giáo dục không chính quy (Chủ thể thực hiện: Học viện Quản lý Giáo dục phối hợp cùng các Sở GD&ĐT Tuyên Quang, Bắc Giang, Yên Bái; Timeline: 2008 - 2010).
  2. Đa dạng hóa chương trình học tập theo định hướng thực tiễn: Thiết kế giáo trình linh hoạt theo phương châm "cần gì học nấy", tập trung vào kỹ thuật thâm canh lúa mới, phòng trừ sâu bệnh, chăn nuôi đại gia súc và chuyển đổi giống cây ăn quả; đặt mục tiêu tăng thu nhập thực tế từ 15% đến 20% cho học viên nông thôn sau đào tạo (Chủ thể thực hiện: Ban chủ nhiệm trung tâm phối hợp cùng Trạm Khuyến nông, Khuyến lâm cấp huyện; Timeline: Thực hiện thường xuyên hàng năm).
  3. Đổi mới cơ chế tài chính và đầu tư cơ sở vật chất: Đề xuất UBND cấp huyện trích lập tối thiểu 3% đến 5% nguồn chi sự nghiệp giáo dục hàng năm để cấp bù kinh phí vận hành thường xuyên; đẩy mạnh xã hội hóa nhằm huy động 30% đến 40% nguồn lực từ các doanh nghiệp và tổ chức xã hội để trang bị tủ sách, phương tiện giảng dạy (Chủ thể thực hiện: UBND cấp huyện, xã và Hội Khuyến học địa phương; Timeline: Giai đoạn 2008 - 2012).
  4. Tăng cường liên kết liên ngành và phát triển đội ngũ giảng viên tình nguyện: Thiết lập quy chế phối hợp bằng văn bản giữa ngành giáo dục với các ban ngành đoàn thể; thu hút lực lượng cán bộ hưu trí, kỹ sư nông nghiệp và nghệ nhân địa phương tham gia giảng dạy, bảo đảm mỗi trung tâm duy trì mạng lưới từ 10 đến 15 giảng viên cộng tác thường xuyên (Chủ thể thực hiện: Phòng GD&ĐT và Ban chủ nhiệm trung tâm; Timeline: Triển khai từ quý 3/2008).

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý tại các Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT và Trung tâm Giáo dục thường xuyên: Ứng dụng bộ tiêu chí đánh giá năng lực quản lý và khung giải pháp tổ chức để hoạch định chính sách, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cán bộ và giám sát mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên trên địa bàn quản lý.
  2. Ban chủ nhiệm và giám đốc các Trung tâm học tập cộng đồng cấp cơ sở: Sử dụng cẩm nang quy trình 8 bước thành lập và vận hành trung tâm để chuẩn hóa công tác xây dựng kế hoạch hoạt động năm, quản trị tài chính minh bạch và điều hành đội ngũ cộng tác viên giảng dạy.
  3. Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý Giáo dục: Khai thác bộ cơ sở dữ liệu thực chứng từ 927 phiếu khảo sát và khung lý luận về giáo dục không chính quy làm tài liệu giảng dạy, biên soạn bài giảng hoặc mở rộng các đề tài nghiên cứu chuyên sâu.
  4. Các nhà hoạch định chính sách nông thôn và tổ chức phi chính phủ: Tham khảo mô hình liên kết đào tạo nghề gắn với chuyển giao công nghệ sinh kế để thiết kế các dự án can thiệp phát triển cộng đồng, xóa đói giảm nghèo bền vững tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

Trung tâm học tập cộng đồng có vị trí pháp lý như thế nào trong hệ thống giáo dục quốc dân? Trung tâm được thể chế hóa chính thức tại Lệnh số 11/2005/L/CTN công bố Luật Giáo dục năm 2005 (Mục 5, Điều 46, Khoản 1), xác định là cơ sở giáo dục thường xuyên thuộc cấp xã, phường, thị trấn nhằm phục vụ nhu cầu học tập suốt đời của nhân dân lao động tại cơ sở.

Những khó khăn lớn nhất của các trung tâm tại tỉnh miền núi phía Bắc là gì? Khảo sát tại Tuyên Quang, Bắc Giang, Yên Bái chỉ ra hai rào cản cốt tử: Hơn 65% chủ nhiệm chưa qua đào tạo nghiệp vụ quản lý giáo dục thường xuyên, và khoảng 85% trung tâm thiếu địa điểm hoạt động độc lập, phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn kinh phí tự huy động hạn hẹp.

Làm thế nào để nâng cao tính hấp dẫn của các lớp học tại trung tâm vùng cao? Nội dung đào tạo phải chuyển từ lý thuyết sang chuyển giao kỹ thuật thực hành gắn trực tiếp với sinh kế, tương tự mô hình nuôi ba ba tại Bắc Giang hay nâng giá trị muối tinh khiết gấp 3 lần tại Tĩnh Gia, giúp người dân nhận thấy hiệu quả kinh tế tức thì.

Nguồn kinh phí duy trì hoạt động của trung tâm được bảo đảm từ các kênh nào? Kinh phí vận hành được tổng hợp từ 3 nguồn: Ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần qua ngân sách xã, các chương trình mục tiêu quốc gia hoặc dự án quốc tế (như UNESCO, NFUAJ), và nguồn vận động xã hội hóa từ các đoàn thể, nhân dân địa phương.

Kinh nghiệm quốc tế nào có thể áp dụng hiệu quả cho mạng lưới trung tâm tại Việt Nam? Việt Nam có thể vận dụng mô hình Kominkan của Nhật Bản (hiện có 18.000 cơ sở, bao phủ 90% địa phương) trong việc xây dựng trung tâm thành ngôi nhà chung đa chức năng, nơi cộng đồng trực tiếp tham gia quản lý và quyết định nội dung đào tạo theo nhu cầu thực tiễn.

Kết luận

  • Khẳng định vai trò xung kích của mạng lưới 8.355 Trung tâm học tập cộng đồng trên toàn quốc trong tiến trình hiện thực hóa mục tiêu xã hội học tập từ cấp cơ sở.
  • Nhận diện toàn diện các điểm nghẽn về thể chế tài chính, cơ sở vật chất và năng lực quản trị của đội ngũ chủ nhiệm tại 3 tỉnh Tuyên Quang, Bắc Giang, Yên Bái qua 927 phiếu khảo sát thực địa.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược gắn liền với quy trình 8 bước chuẩn hóa thành lập và vận hành bền vững mô hình giáo dục cộng đồng.
  • Cung cấp luận cứ khoa học xác đáng phục vụ triển khai Luật Giáo dục năm 2005 và Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 - 2010.
  • Đóng góp trực tiếp vào công tác biên soạn cẩm nang nghiệp vụ và chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành Quản lý Giáo dục.

Đề tài mở ra lộ trình tiếp theo từ năm 2008 nhằm tiếp tục thử nghiệm sổ tay hướng dẫn quản lý tại các địa phương vùng cao, đồng thời kêu gọi các cấp chính quyền khẩn trương ban hành cơ chế phân bổ ngân sách riêng biệt, biến các trung tâm học tập cộng đồng thành đòn bẩy phát triển kinh tế - xã hội vững chắc tại các tỉnh miền núi phía Bắc.