Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Làng nghề truyền thống tại Việt Nam hình thành và phân bố tập trung tại vùng châu thổ sông Hồng, đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động nông nhàn và góp phần xây dựng nông thôn mới. Tại thành phố Hà Nội, huyện Phú Xuyên là huyện thuần nông nằm ở phía Nam (cách trung tâm 40 km), sở hữu 78 làng nghề duy trì hoạt động, trong đó có 40 làng nghề được Ủy ban nhân dân thành phố công nhận là làng nghề truyền thống. Trong đó, xã Phú Túc với nghề mây tre đan cỏ tế truyền thống hơn 300 năm lịch sử đã đóng góp đáng kể vào chuyển dịch kinh tế địa phương. Tuy nhiên, các làng nghề tại đây vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: phương thức sản xuất chủ yếu mang tính nhỏ lẻ theo quy mô hộ gia đình, công nghệ lạc hậu, nguy cơ mai một nghề truyền thống và tình trạng ô nhiễm môi trường diễn biến phức tạp. Việc tìm kiếm các giải pháp phát triển bền vững nhằm cân đối giữa tăng trưởng kinh tế, an sinh xã hội và bảo vệ sinh thái là yêu cầu cấp thiết được đặt ra.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là bổ sung, hệ thống hóa một số lý luận chung về bảo tồn và phát triển bền vững làng nghề truyền thống; phân tích thực trạng cùng những mặt hạn chế trong công tác bảo tồn, phát triển làng nghề tại xã Phú Túc; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy làng nghề phát triển bền vững trong những năm tiếp theo.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 3 nội dung:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển làng nghề làm nền tảng hình thành khung nội dung và phương pháp tiếp cận của đề tài.
- Đánh giá thực trạng hoạt động của làng nghề xã Phú Túc, làm rõ điểm mạnh, điểm yếu, nguyên nhân và các bất cập về mặt chính sách tác động đến quá trình bảo tồn, phát triển.
- Đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản nhằm bảo tồn và phát triển bền vững làng nghề truyền thống tại xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các làng nghề trên địa bàn xã Phú Túc.
- Phạm vi không gian: Địa bàn xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát, thu thập và phân tích dữ liệu từ năm 2008 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2019).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế nông thôn, công nghiệp hóa - hiện đại hóa và phát triển bền vững (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, lần thứ X với quan điểm "Phát triển bền vững các làng nghề"). Tác giả trích dẫn định nghĩa về phát triển bền vững của Ủy ban Thế giới về Môi trường (WCED), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và phân tích định hướng phát triển bền vững dựa trên 3 trụ cột: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ tài nguyên - môi trường sinh thái.
Về khung pháp lý, đề tài vận dụng các văn bản quản lý nhà nước chuyên ngành:
- Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ ban hành "Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam" (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) với 8 nguyên tắc cốt lõi.
- Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn.
- Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn tiêu chí công nhận làng nghề (tối thiểu 30% tổng số hộ tham gia; hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm; chấp hành tốt chính sách pháp luật) và tiêu chuẩn công nhận làng nghề truyền thống (xuất hiện trên 50 năm; sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc; gắn với tên tuổi nghệ nhân hoặc làng nghề).
- Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách phát triển ngành nghề nông thôn; Quyết định số 64/CP ngày 22/4/2003 của Chính phủ về xử lý triệt để cơ sở ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; Quyết định số 131/QĐ-TTg và Quyết định số 443/QĐ-TTg năm 2009 về hỗ trợ lãi suất kích cầu tín dụng; Quyết định số 2954/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về thành lập cụm công nghiệp làng nghề xã Phú Túc.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng bao gồm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết và logic: phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, đi từ trừu tượng đến cụ thể.
Nguồn dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp thu thập từ sách, tạp chí chuyên ngành, các công trình của các tác giả đi trước (Awgichew, Bùi Văn Vượng, Mai Thế Hởn), các báo cáo thống kê của Sở Công thương thành phố Hà Nội (năm 2007, 2009), Báo cáo môi trường làng nghề Việt Nam năm 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tư liệu điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số liệu hành chính và thống kê kinh tế - xã hội của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã Phú Túc và Trạm y tế xã Phú Túc.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững làng nghề truyền thống
Chương 1 tập trung làm rõ các khái niệm công cụ và cơ sở lý luận về làng nghề và phát triển bền vững:
- Khái niệm: Làng nghề được cấu thành từ hai yếu tố "làng" và "nghề", tồn tại trong không gian địa lý nhất định, tập hợp nhiều hộ gia đình có nguồn thu nhập chính từ nghề thủ công, có liên kết kinh tế, văn hóa và xã hội. Làng nghề truyền thống là cộng đồng có nghề hình thành lâu đời (trên 50 năm), sản xuất các sản phẩm độc đáo kết tinh kỹ nghệ thẩm mỹ và bản sắc dân tộc, có quy trình kỹ thuật được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
- Đặc điểm của làng nghề truyền thống: Sản xuất gắn bó mật thiết với hộ gia đình nông thôn và nông nghiệp (tận dụng nguyên liệu nông nghiệp, nhân lực nông nhàn, người thợ thủ công gắn bó chặt chẽ với ruộng đất); sản phẩm thủ công mang tính thẩm mỹ và sáng tạo cá nhân, sản xuất đơn chiếc, khó đáp ứng đơn hàng đại trà quy mô lớn; kỹ thuật chủ yếu sử dụng công cụ thủ công truyền thống, tích lũy mang tính bí truyền và chủ yếu truyền miệng; hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh gồm hộ gia đình (chiếm trên 90%), tổ hợp tác/tổ sản xuất tự phát, hợp tác xã thủ công nghiệp và các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.
- Các nhóm nhân tố ảnh hưởng: Nhóm nhân tố xã hội (chính sách nhà nước, phong tục tập quán, truyền thống cha truyền con nối); nhóm nhân tố kinh tế (cơ sở hạ tầng, nguồn vốn); nhóm nhân tố môi trường (nguồn cung nguyên vật liệu tự nhiên, bảo vệ cảnh quan).
- Sự cần thiết phát triển bền vững làng nghề truyền thống: Đóng góp phát triển kinh tế thông qua việc giải quyết việc làm cho mọi lứa tuổi (từ trẻ em 6-7 tuổi đến người già 100 tuổi), gia tăng giá trị sản xuất và xuất khẩu (hàng thủ công mỹ nghệ thuộc nhóm 6 mặt hàng xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam); gìn giữ các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể (lễ hội giỗ tổ nghề, đình, đền, chùa); giải quyết các vấn đề suy thoái môi trường bức xúc khi 100% mẫu nước thải làng nghề khảo sát đều vượt tiêu chuẩn cho phép và các dòng sông liên quan như sông Nhuệ bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Chương 2: Thực trạng hoạt động phát triển bền vững làng nghề truyền thống Phú Túc (Huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội)
Chương này trình bày toàn diện các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đánh giá thực trạng phát triển bền vững của làng nghề Phú Túc trên cả ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường:
- Điều kiện tự nhiên - xã hội: Xã Phú Túc nằm ở phía Tây huyện Phú Xuyên, giáp các xã Hoàng Long, Tri Trung, Quảng Phú Cầu (huyện Ứng Hòa) và Hồng Dương (huyện Thanh Oai). Diện tích tự nhiên toàn xã là 752,16 ha (diện tích đất canh tác lúa nước là 556 ha). Toàn xã có 8 thôn: Trình Viên, Đương La, Phú Túc, Tư Sả, Lưu Thượng, Lưu Đông, Lưu Xá, Hoàng Xá. Cả 8 thôn đều được công nhận là làng nghề, riêng Lưu Thượng là làng nghề truyền thống chuyên mây tre đan cỏ tế. Dân số toàn xã có 2.527 hộ với 9.525 nhân khẩu; Đảng bộ có 307 đảng viên sinh hoạt tại 15 chi bộ. Về lao động, nhân khẩu nữ chiếm 60,59%, nam chiếm 39,41% (năm 2015). Cơ sở hạ tầng văn hóa gồm 9 đình, 9 chùa, 4 miếu (trong đó 5 đình và 2 miếu là di tích cấp tỉnh); tỷ lệ hộ dùng nước hợp vệ sinh đạt 71,6%. Xã hoàn thành 19/19 tiêu chí và được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới năm 2017.
- Thực trạng phát triển kinh tế: Toàn xã có 9 doanh nghiệp lớn, 20 tổ hợp sản xuất và hàng trăm hộ cá thể, thu hút trên 70% lao động địa phương và hàng trăm lao động vùng lân cận. Sản phẩm làng nghề đa dạng với hơn 1.000 mẫu mã khác nhau, chủ yếu làm từ nguyên liệu cỏ tế (khai thác tự nhiên từ vùng núi phía Bắc và miền Trung) kết hợp bẹ ngô, bẹ chuối, mây, bèo, tre. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã có Quyết định số 2954/QĐ-UBND thành lập cụm công nghiệp làng nghề Phú Túc tại khu 17 mẫu cánh đồng Soi (thôn Lưu Thượng). Từ năm 2016 đến thời điểm nghiên cứu, hoạt động du lịch làng nghề đón trên 150 đoàn với gần 2.000 lượt khách trong nước và quốc tế.
| Chỉ tiêu kinh tế - xã hội tại xã Phú Túc |
Năm 2008 |
Năm 2018 |
| Tổng giá trị thu nhập/GDP toàn xã |
~ 98 tỷ đồng |
> 438 tỷ đồng |
| Thu nhập bình quân đầu người |
12 triệu đồng/năm |
44 triệu đồng/năm |
| Giá trị sản xuất TTCN làng nghề |
Chưa tổng hợp riêng |
237,6 tỷ đồng (tăng 14% so với 2017) |
| Tỷ trọng nông nghiệp - chăn nuôi |
Đa số là thuần nông |
25,9% |
| Tỷ trọng CN - TTCN - xây dựng |
Chưa chiếm ưu thế |
61,3% |
| Tỷ trọng thương mại - dịch vụ |
Thấp |
12,8% |
| Tỷ lệ lao động thường xuyên có việc làm |
Thấp hơn |
97% |
- Thực trạng xã hội: Làng nghề góp phần nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo, tỷ lệ nhà cao tầng tăng thay thế nhà tranh ngói, 100% thôn có điện lưới và đường giao thông bê tông hóa. Tuy nhiên, phát sinh các bất cập xã hội: phân tầng mức sống giữa chủ xưởng và người làm thuê; lao động làm thuê làm việc 10-12 giờ/ngày nhưng hầu hết không có bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội; học sinh có xu hướng bỏ học sớm sau trung học cơ sở để đi làm nghề; thiếu hụt lực lượng thợ trẻ có tay nghề cao do thanh niên rời làng tìm việc; hiệp hội ngành nghề hoạt động kém hiệu quả do thiếu nguồn tài chính; theo số liệu điều tra chung của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chỉ có 24,2% lao động làng nghề qua đào tạo và 66,3% làng nghề thiếu công nghệ hiệu quả.
- Thực trạng ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm mang tính phân tán do cơ sở sản xuất nằm xen kẽ trong khu dân cư. Quá trình chế biến nguyên liệu (kéo sợi, tuốt lạt) phát sinh bụi; quy trình sản xuất sử dụng lưu huỳnh để hun sấy, hóa chất chống mối mọt, bể ngâm xút để tẩy trắng song mây, bể nhúng keo dầu và phun sơn công nghiệp xả trực tiếp khí thải và nước thải chưa qua xử lý ra khu dân cư; rác thải sản xuất chất đống. Nước thải chứa axit, xyanua và kim loại nặng (Hg, Pb, Cr, Zn) gây bồi lắng, làm đen và bốc mùi các ao hồ, hủy hoại hệ sinh thái thủy sinh. Khí thải phát sinh nồng độ cao các khí độc SO2, CO2, NOx. Trạm y tế xã ghi nhận từ năm 2008 trở lại, số lượng người mắc bệnh ung thư tăng lên, phần lớn lao động bước vào tuổi trung niên có thị lực suy giảm, các bệnh hô hấp và tai nạn lao động gia tăng.
- Hạn chế và nguyên nhân:
- Về kinh tế: Tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng; quy mô manh mún; khó khăn lớn nhất là nguồn vốn (doanh nghiệp khó tiếp cận vốn ngân hàng do thiếu tài sản thế chấp và hóa đơn đầu vào để hưởng chính sách hỗ trợ lãi suất 4% theo Quyết định 131/QĐ-TTg và Quyết định 443/QĐ-TTg, dẫn đến việc phải vay tín dụng đen với lãi suất cao; năm 2008 lãi suất ngân hàng dao động phức tạp từ 1% lên đỉnh điểm 1,75% vào tháng 9-10 rồi hạ xuống 1,2-1,25% vào tháng 12); mặt bằng nhà xưởng chật hẹp nhưng người dân còn e ngại di dời ra cụm công nghiệp; bộ máy quản lý cấp xã thiếu biên chế chuyên trách công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp.
- Về xã hội: Đội ngũ nghệ nhân già yếu, chính sách đãi ngộ nghệ nhân chưa thỏa đáng; thiếu thợ trẻ kế cận; chênh lệch mức sống gia tăng.
- Về môi trường: Mâu thuẫn gay gắt giữa tối đa hóa lợi nhuận và chi phí xử lý chất thải; thiết bị sản xuất tự chế, chắp vá, thiếu hệ thống lọc và xử lý chất thải; ý thức bảo vệ môi trường của người dân còn thấp; thiếu chế tài và lực lượng kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính tại cấp cơ sở.
Chương 3: Một số định hướng và giải pháp nhằm phát triển bền vững làng nghề truyền thống Phú Túc (Huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội) hiện nay
Dựa trên thực trạng, tác giả xác lập các định hướng và nhóm giải pháp mang tính chiến lược:
- Yêu cầu và định hướng phát triển: Quán triệt đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, thành phố Hà Nội và huyện Phú Xuyên; hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ vốn, đãi ngộ nghệ nhân và xúc tiến thương mại; phát huy nguồn lực lao động tại chỗ theo phương châm "ly nông bất ly hương"; thực hiện nguyên tắc kết hợp kỹ thuật hiện đại với kỹ xảo thủ công tinh xảo ("Truyền thống hóa công nghệ hiện đại và hiện đại hóa công nghệ truyền thống" - đưa công nghệ vào khâu xử lý nguyên liệu, cơ giới hóa khâu tạo độ bền, giữ nguyên tính thủ công ở các công đoạn tạo hình mỹ thuật); mở rộng thị trường xuất khẩu gắn với hội nhập kinh tế quốc tế; xây dựng quy hoạch tổng thể làng nghề gắn với du lịch văn hóa; chuyển đổi các sản phẩm thị trường không còn nhu cầu và khôi phục những sản phẩm bản sắc có thị trường tiêu thụ.
- Các nhóm giải pháp cơ bản:
- Nhóm giải pháp quy hoạch và hạ tầng: Đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp làng nghề Phú Túc tại cánh đồng Soi theo Quyết định 2954/QĐ-UBND, đưa các cơ sở sản xuất có nguy cơ ô nhiễm cao ra khỏi khu dân cư; đồng bộ hóa hệ thống cấp thoát nước và đường giao thông nội đồng, giao thông liên xã.
- Nhóm giải pháp về vốn và thị trường: Cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cơ sở làng nghề tiếp cận các gói tín dụng ưu đãi của Nhà nước; đa dạng hóa nguồn vốn huy động trong nhân dân; tăng cường xúc tiến thương mại, tham gia hội chợ trong nước và quốc tế để kết nối đầu ra.
- Nhóm giải pháp đào tạo và nguồn nhân lực: Thực hiện chính sách tôn vinh, hỗ trợ tài chính cho nghệ nhân mở lớp truyền nghề; liên kết với các trường dạy nghề đào tạo kỹ thuật công nghiệp nông thôn cho lao động trẻ; cải thiện điều kiện làm việc và áp dụng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cho lao động làm thuê.
- Nhóm giải pháp bảo vệ môi trường: Tăng cường đầu tư công nghệ sản xuất sạch hơn; áp dụng các biện pháp kỹ thuật thay thế lưu huỳnh và hóa chất độc hại trong hun sấy, tẩy trắng mây tre; thành lập và duy trì hoạt động của các đội vệ sinh môi trường thu gom rác thải sản xuất; xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung tại cụm công nghiệp; tăng cường kiểm tra, áp dụng chế tài xử phạt hành chính đối với các hành vi xả thải trái quy định.
Kết quả và đóng góp
Về mặt kết quả, khóa luận đã cung cấp hệ thống số liệu cụ thể phản ánh bước chuyển dịch kinh tế - xã hội của xã Phú Túc trong giai đoạn 2008 - 2018:
- Tổng thu nhập toàn xã tăng từ 98 tỷ đồng (2008) lên trên 438 tỷ đồng (2018); thu nhập bình quân đầu người tăng từ 12 triệu đồng/năm lên 44 triệu đồng/năm.
- Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp làng nghề đạt 237,6 tỷ đồng vào năm 2018 (tăng 14% so với 2017), chiếm tỷ trọng chi phối (61,3%) trong cơ cấu kinh tế toàn xã.
- Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên đạt 97%, giải quyết việc làm cho hơn 70% lực lượng lao động địa phương tại 9 doanh nghiệp lớn, 20 tổ hợp và hàng trăm hộ sản xuất.
- Chỉ ra các bằng chứng thực nghiệm về tác động môi trường và sức khỏe tại trạm y tế xã: ô nhiễm nước chứa kim loại nặng (Pb, Hg, Cr, Zn), xyanua; ô nhiễm khí độc do hun sấy lưu huỳnh; số ca mắc bệnh ung thư gia tăng từ năm 2008 và người lao động suy giảm thị lực từ tuổi trung niên.
Về mặt đóng góp, tác giả đã:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về phát triển bền vững làng nghề truyền thống gắn với đặc thù kinh tế nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng.
- Phân tích chi tiết thực trạng toàn diện trên cả ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường tại xã Phú Túc, chỉ rõ các điểm nghẽn chính sách (sự khó khăn trong tiếp cận gói hỗ trợ lãi suất tín dụng theo Quyết định 131/QĐ-TTg và Quyết định 443/QĐ-TTg; thiếu biên chế quản lý công nghiệp cấp xã).
- Đề xuất hệ thống giải pháp gắn với thực tiễn địa phương, nổi bật là định hướng "Truyền thống hóa công nghệ hiện đại và hiện đại hóa công nghệ truyền thống", cùng giải pháp quy hoạch cụm công nghiệp tập trung tại cánh đồng Soi theo Quyết định 2954/QĐ-UBND nhằm tách cơ sở ô nhiễm ra khỏi khu dân cư.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn một số hạn chế do tác giả tự xác định hoặc xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:
- Hạn chế về phạm vi và chiều sâu dữ liệu: Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào không gian địa bàn xã Phú Túc với dữ liệu phản ánh đến năm 2018-2019, chưa mở rộng so sánh định lượng đa chiều với các làng nghề mây tre đan khác thuộc huyện Phú Xuyên hoặc các địa phương lân cận.
- Hạn chế về điều kiện nghiên cứu: Tác giả tự nhận định do hạn chế về mặt thời gian và kiến thức bản thân nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định trong quá trình phân tích và khái quát.
- Hướng mở tiếp theo: Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về hiệu quả vận hành thực tế của cụm công nghiệp làng nghề Phú Túc sau khi hoàn thành xây dựng; nghiên cứu chuyển đổi mô hình kinh tế tuần hoàn, xử lý triệt để rác thải và hóa chất tẩy nhuộm trong ngành mây tre đan cỏ tế; khảo sát thị trường xuất khẩu quốc tế theo các tiêu chuẩn xanh trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế, Xã hội học nông thôn đang thực hiện các đề tài nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn và bảo tồn làng nghề truyền thống.
- Cán bộ quản lý kinh tế, chính quyền cấp xã và huyện ngoại thành trong việc tham khảo mô hình đánh giá tác động ba chiều (kinh tế - xã hội - môi trường) để hoạch định chính sách quy hoạch làng nghề nông thôn.
- Phần đáng tham khảo nhất của công trình là Chương 2, nơi cung cấp số liệu thực tế chi tiết về tình hình kinh tế, cơ cấu lao động, khó khăn tín dụng và các số liệu cụ thể về hiện trạng ô nhiễm hóa chất, bệnh tật nghề nghiệp tại làng nghề mây tre đan xã Phú Túc.
Câu hỏi thường gặp
1. Làng nghề xã Phú Túc chủ yếu sử dụng những loại nguyên vật liệu nào để chế tác sản phẩm?
Sản phẩm làng nghề Phú Túc sử dụng nguyên vật liệu chính là cỏ tế (loại cây mọc hoang dại tại vùng rừng núi phía Bắc và một số tỉnh miền Trung), kết hợp với các nguyên liệu khác như bẹ ngô, bẹ chuối, mây, bèo và tre.
2. Tình hình kinh tế xã Phú Túc có sự thay đổi như thế nào giữa năm 2008 và năm 2018?
Năm 2008, GDP toàn xã đạt khoảng 98 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người là 12 triệu đồng/năm. Đến năm 2018, tổng thu nhập toàn xã đạt trên 438 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người tăng lên 44 triệu đồng/năm; giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp đạt 237,6 tỷ đồng, đưa tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng chiếm 61,3% cơ cấu kinh tế.
3. Tại sao các doanh nghiệp và cơ sở làng nghề ở Phú Túc khó tiếp cận các gói tín dụng hỗ trợ lãi suất của Chính phủ?
Theo phân tích trong khóa luận, các doanh nghiệp và hộ sản xuất ở làng nghề rất khó tiếp cận các gói kích cầu hỗ trợ lãi suất 4% theo Quyết định số 131/QĐ-TTg và gói vay trung dài hạn theo Quyết định số 443/QĐ-TTg do phần lớn các cơ sở sản xuất kinh doanh theo quy mô hộ gia đình, không đáp ứng được thủ tục tài sản thế chấp và hầu như không có hóa đơn chứng từ đầu vào.
4. Ô nhiễm môi trường tại làng nghề mây tre đan Phú Túc biểu hiện qua những công đoạn và tác nhân cụ thể nào?
Ô nhiễm không khí và chất thải rắn phát sinh từ khâu kéo sợi, tuốt lạt tạo bụi; việc dùng lưu huỳnh hun sấy nguyên liệu và phun thuốc chống mối mọt ngay tại gia đình; nước thải phát sinh từ các bể xút tẩy song mây, bể nhúng keo dầu và phun sơn chứa axit, kim loại nặng (Hg, Pb, Cr, Zn), xyanua xả thẳng ra môi trường làm đen ao hồ và gây suy giảm thị lực, gia tăng bệnh ung thư được ghi nhận tại trạm y tế xã.
5. Định hướng "Truyền thống hóa công nghệ hiện đại và hiện đại hóa công nghệ truyền thống" trong khóa luận được hiểu như thế nào?
Tác giả định hướng chỉ nên đưa công nghệ và máy móc hiện đại vào các khâu xử lý nguyên liệu, tự động hóa hun sấy và tạo độ bền sản phẩm để giảm tải sức lao động; tuyệt đối không thay thế đôi tay khéo léo của người thợ thủ công nhằm bảo tồn tính nghệ thuật, nét tinh xảo và bản sắc văn hóa độc đáo của sản phẩm mây tre đan.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Phương đã làm rõ bức tranh toàn diện về thực trạng phát triển làng nghề mây tre đan cỏ tế tại xã Phú Túc (huyện Phú Xuyên, Hà Nội) trong giai đoạn 2008 - 2018 dưới góc độ phát triển bền vững. Công trình phân tích sâu sắc mối quan hệ tương hỗ và mâu thuẫn nội tại giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn. Hệ thống các giải pháp đề xuất tập trung vào quy hoạch cụm công nghiệp tập trung, tháo gỡ rào cản tài chính, đổi mới công nghệ chọn lọc và đãi ngộ nghệ nhân, tạo cơ sở thực tiễn quan trọng cho mục tiêu bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống thời kỳ mới.