Chương I: Tổng quan lý thuyết về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp - Chương II: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng số 1 — VINACONEX 1 - CHUONG III: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cô phần xây dựng số 1 - VINACONEXI Lớp: Quản trị Doanh nghiệp 52B 3 SVTH: Lê Thanh Thư Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Tạ Minh Quang CHUONG I: TONG QUAN LY THUYET VE NANG LUC CANH TRANH CUA DOANH NGHIEP 1. Những vấn đề về cạnh tranh, nang lực cạnh tranh 1. Khai niệm va vai trò của cạnh tranh 1.
Khải niệm cạnh tranh Ngày nay, hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải công nhận rằng trong mọi hoạt động kinh tế đều phải có cạnh tranh. Và coi cạnh tranh không những là động lực, môi trường của sự phát triển nói chung, thúc đây sản xuất kinh doanh phát triển và tăng năng suất lao động, hiệu quả của các doanh nghiệp nói riêng mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội. Một trong những khó khăn đó là không có một sự đồng nhất trong quan niệm về cạnh tranh. Lý do là thuật ngữ này được sử dụng để đánh giá cho tất cả các doanh nghiệp, các ngành, các quốc gia và cả khu vực liên quốc gia.
Khi xác định tính cạnh tranh của một doanh nghiệp hay của một ngành công nghiệp, chỉ cần xét đến tiềm năng sản xuất một hàng hoá hay dịch vụ ở một mức giá ngang bằng hay thấp hơn mức giá phô biến mà không phải có trợ cấp. « Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia: “Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh bền vững về mức sông nghĩa là đạt được các tỉ lệ tăng trưởng kinh tế kinh tế cao được xác định bằng sự thay đôi của tong sản phâm quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian” « Uy ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹ sử dụng định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia như sau: “Cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó dưới các điều kiện thị trường tự do và công băng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của các thị trường quốc tế , đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của nhân dân nước đó.” ¢ Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã chọn định nghĩa về cạnh tranh, cố gắng kết hợp các doanh nghiệp , ngành và quốc gia như sau : “Khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.” Định nghĩa trên phù hợp vì nó phản ánh khả năng cạnh tranh quốc gia nằm trong mối liên hệ trực tiếp với hoạt động cạnh tranh của các doanh nghiệp và lợi thế cạnh tranh trở thành một nhân tố quan trọng trong hoạt động kinh té. Do sự phát triển của chủ nghĩa tư ban công nghiệp, thương mai cùng với ảnh hưởng của tư tưởng kinh tế, cạnh tranh ngày càng được xem như là cuộc dau tranh Lớp: Quản trị Doanh nghiệp 52B 4 SVTH: Lê Thanh Thư Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Tạ Minh Quang gitta cac đối thủ với mục đích đánh bai đối thủ.
Đặc biệt, trước xu thế hội nhập như hiện nay, cạnh tranh ngày càng trở nên gay go, khốc liệt và phức tạp hơn, trở thành một vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào không thể cạnh tranh được với đối thủ sẽ nhanh chóng bị bỏ lại, đào thải ra thương trường. Vai trò của cạnh tranh trong nên kinh tế thị trường Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nề sản xuất hàng hóa nói riêng và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đây sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế. Cạnh tranh sẽ đem đến cho khách hàng giá trị tối ưu nhất với những đồng tiền mô hôi công sức họ bỏ ra để có được sản phẩm, dịch vụ họ muốn Vì vậy, cạnh tranh là một tất yếu mà bất kỳ doanh nghiệp, cá nhân nào khi tham gia thị trường cũng đều phải chấp nhận nó như một quy luật sinh tồn vì nó đóng góp vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội.
Lợi thế cạnh tranh Lợi thé cạnh tranh là giá trị mà doanh nghiệp mang đến cho khách hàng, giá trị đó vượt quá chi phí dùng để tạo ra nó. Giá trị mà khách hàng sẵn sàng để trả, và ngăn trở việc đề nghị mức giá thấp hơn đối thủ cho những lợi ích tương đương hay cung cấp những lợi ích độc nhất hơn là phát sinh một giá cao hơn. Khi một doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp đó sẽ có cái mà đối thủ khác không có, nghĩa là doanh nghiệp hoạt động tốt hơn đối thủ, hoặc làm được những việc mà đối thủ khác không thé làm được. Lợi thế cạnh tranh là nhân tố cần thiết cho sự thành công, tổn tại lâu dài của doanh nghiệp.
Do vậy mà các doanh nghiệp đều muốn cô gắng phát trién lợi thé cạnh tranh, tuy nhiên điều này thường rat dé bị xói mòn bởi hành động bắt chước của đối thủ. Những lợi thế cạnh tranh được doanh nghiệp tạo ra và sử dụng cho cạnh tranh thì được gọi là lợi thế cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh còn được hiểu như các đặc điểm hay các biến số của sản phẩm hoặc nhãn hiệu, mà nhờ có chúng doanh nghiệp tạo ra một số tính vượt trội hơn so với những đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Một doanh nghiệp được xem là có lợi thế cạnh tranh khi tỷ lệ lợi nhuận của nó cao hơn tỷ lệ bình quân trong ngành.
Doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững khi nó có thé duy trì tỷ lệ lợi nhuận cao trong khoảng thời gian dài. Hai yếu tố cơ bản biểu thị lợi thế cạnh tranh là lượng giá trị mà khách hàng cảm nhận về hàng hóa hay dịch vụ công ty và chi phí sản xuất nó. Như vậy các nhân tố tạo nên lợi thé cạnh tranh là hiệu quả, chất lượng, sự cải tiễn và đáp ứng khách hàng. Lớp: Quản trị Doanh nghiệp 52B 5 SVTH: Lê Thanh Thư Chuyên đề thực tập GVHD: ThS.
Tạ Minh Quang Lợi thế cạnh tranh có được từ bên ngoài khi chúng dựa trên chiến lược phân biệt sản phâm, hình thành nên giá trị cho người mua, hoặc bằng cách giảm chi phí sử dụng. hoặc bằng cách tăng khả năng sử dụng. Lợi thế này tạo cho doanh nghiệp có “Quyền lực thị trường mạnh” Dựa trên tính ưu việt của doanh nghiệp trong việc làm chủ các chi phí sản xuất đã tạo nên lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Nó tạo nên giá trị cho người sản xuất bằng cách tạo ra cho doanh nghiệp một giá thành thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh trực tiếp.
Mục đích chính của phân tích môi trường bên trong là nhận diện các nguồn lực tiềm tàng cũng như đang hiện hữu tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp. Ngày nay, quá trình cạnh tranh đang có khuynh hướng chuyền mục đích của cạnh tranh từ phía cạnh tranh giữa người tiêu dùng sang cạnh tranh với đối thủ. Cốt lõi của cạnh tranh hiện nay được quan niệm là tạo ưu thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. Thích ứng cạnh tranh đòi hỏi phải sang tạo và khai thác lợi thế cạnh tranh.
Một doanh nghiệp có thể sang tạo ra lợi thế cạnh tranh theo nhiều cách khác nhau: cạnh tranh bằng cách đầu tư giảm giá thành trong một nhà máy đại quy mô cạnh tranh trong cùng một tuyến thị trường, cạnh tranh bằng cách chọn tuyển thị trường khác với đối thủ cạnh, bằng cách kiểm soát hệ thống phân phối. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là toàn bộ những khả năng, năng lực mà doanh nghiệp đó có dé duy tri vi tri của nó trên thi trường cạnh tranh một cách lâu dài. Các doanh nghiệp tồn tại trong thị trường cạnh tranh phải có những vị trí nhất định, chiếm lĩnh những phần thị trường nhất định. Đây là điều kiện duy nhất duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp trong thị trường.
Dé ton tại, doanh nghiệp phải luôn vận động thích nghỉ vượt trội hơn đối thủ. Trên thực tế ta thấy trong thập ky vừa qua, thế giới kinh doanh sống động và sáo trộn không ngừng làm cho các nhà kinh tế phải ngạc nhiên, mọi dự đoán đều không vượt quá 5 năm. Sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp, quốc gia tăng nhanh. Hầu hết các thị trường được quốc tế hóa.
Chỉ có những doanh nghiệp có kha năng cạnh tranh mới tồn tại lâu dai trên thị trường. Vì vậy trong môi trường cạnh tranh doanh nghiệp phải tìm cách nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, chỉ có như vậy mới có chỗ đứng trên thị trường. Hiện nay còn có rất nhiều quan niệm khác nhau về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Có quan niệm gan khả năng cạnh tranh với ưu thế của sản pham mà doanh nghiệp đưa ra trên thị trường.
Cũng có quan niệm gắn khả năng cạnh tranh với vi trí của nó trên thị trường nhưng một sô người lại đông nhât kha năng cạnh Lớp: Quản trị Doanh nghiệp 52B 6 SVTH: Lê Thanh Thư Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Tạ Minh Quang tranh với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Có thé nói, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thê hiện thực lực và lợi thế của nó so với các đối thủ khác trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng dé thu lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp. Các nhân tố tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có phạm vi rất rộng.
Các nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra nhiều phương pháp xác định các yếu tố tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Cạnh tranh, hiểu theo cấp độ doanh nghiệp, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về thi phần, khách hàng hay nguồn lực của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, bản chất cạnh tranh ngày nay không phải là tiêu diệt đối thủ, mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra va mang lại cho khách hàng những giá tri gia tang cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ cạnh tranh dé họ có thể lựa chọn minh mà không lựa chọn đối thủ cạnh tranh. Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, khái niệm năng lực cạnh tranh được sử dụng.