chương 1 của bai báo cáo đã trình bày những nét khái quát về Công ty Thương mại Dịch vụ Du lịch Viettourist văn phòng Hà Nội. Qua đó, nội dung của chương đã cung cấp những hình dung và hiểu biết tổng quát về công ty cũng như cơ cấu tô chức, sản phẩm, thị trường và tình hình hoạt động kinh doanh. Đó chính là những cơ sở dé tìm hiểu về chương 2 của bài báo cáo: Thực trang về năng lực cạnh tranh của các sản phẩm của hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế outbound tại Công ty Cổ Phan TIhương Mai Dịch Vu Du Lich Viettourist. 13 CHƯƠNG 2: THUC TRANG VE NANG LỰC CẠNH TRANH CUA CAC SAN PHAM CUA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LU HANH QUOC TE OUTBOUND TAI CONG TY CO PHAN THUONG MAI DICH VỤ DU LICH VIETTOURIST - VĂN PHONG HÀ NOI Ở chương trước, bai báo cáo đã trình bay những thông tin khái quát dé cung cấp hiểu biết căn bản về Công ty Cé Phần Thương Mai Dịch Vụ Du Lich Viettourist văn phòng Hà Nội.
Chương 2 của bài báo cáo sẽ phân tích thực trạng về năng lực cạnh tranh của các sản phẩm của hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế outbound tại Công ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Du Lịch Viettourist văn phòng Hà Nội. Cơ sở cho việc phân tích là những lý thuyết về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, các yếu tố ảnh hưởng và những tiêu chí đánh giá về năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm trong kinh doanh lữ hành quốc tế outbound của doanh nghiệp du lịch 2. Khái niệm tour du lịch outbound 2.
Khái mệm chương trình du lịch Theo tác giả Gagnon và Ociepka trong cuốn “Phát triển nghề lữ hành” tái bản lần thứ sáu: “Chương trình du lịch là một sản phẩm lữ hành được xác định mức giá trước, khách có thể mua riêng lẻ hoặc mua theo nhóm và có thể tiêu dùng riêng lẻ hoặc tiêu dùng chung với nhau. Một chương trình du lịch có thé bao gồm và theo các mức độ chất lượng khác nhau của bắt kỳ hoặc tat cả các dich vụ vận chuyển, hàng không, đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, nơi ăn ở, tham quan và vui chơi giải tri”. Theo cuốn “Từ điển quản lý du lịch, khách san và nha hàng”: “Chương trình du lịch trọn gói (Package Tour) là các chương trình du lịch mà mức giá bao gồm vận chuyển, khách sạn, ăn uống v. và phải trả tién trước khi di du lich.” Theo Luật du lich Việt Nam có hiệu lực từ 01-01-2017, tai Mục 13 Điều 4: “Chương trình du lịch là lịch trình, các dịch vụ và giá bản chương trình được định trước cho chuyến di của khách du lịch từ nơi xuất phát đến điển kết thúc chuyến đi.
Khái niệm chương trình du lịch outbound Du lịch Outbound nói về chuyến du lịch dành cho người hiện đang ở quốc gia sở tại đi đến các quốc gia khác tham quan, khám phá. Như vậy các chương trình du lịch outbound được hiểu là các chương trình du lịch do Các công ty du lịch lữ hành tổ chức theo nhóm cho đối tượng khách là người Việt Nam, người nước ngoài sống và làm việc tại Việt Nam đi thăm quan các nước khác. Chương trình du lich outbound có thé chia thành nhiều loại nhưng trong phạm vi bài báo cáo này sẽ chỉ tập trung nghiên cứu các tour ghép trọn gói, tức là doanh nghiệp lữ hành chủ động nghiên cứu thị trường, xây dựng các chương trình du lịch, ấn định các ngày thực hiện, tô chức bán và thực hiện các chương trình. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch trong kinh doanh du lịch outbound 2.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh 2. Khái niệm về cạnh tranh Theo Các Mác : “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa nhà tư bản dé giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá dé thu hút lợi nhuận siêu ngạch”. Theo Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh Công nghiệp của tổ chức Hợp tác & Phát triển kinh tế (OECD) cho rằng : “Cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và các vùng trong việc tạo ra việc làm va thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”, Với cách tiếp cận trên, khái niệm cạnh tranh có thé hiểu như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìn mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thi đoạn dé đạt được mục tiêu kinh tế của minh, thông thưởng là chiếm lĩnh thị trường, giành giật lấy khách hàng cũng như diéu kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Theo quan điểm của Michael Porter (1990): “Năng lực cạnh tranh đề cập đến khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm chất lượng và năng suất vượt trội hơn so với đối thủ cạnh tranh.” 15 Có thể hiểu, năng lực cạnh tranh là khả năng khai thác, huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực giới hạn như nhân lực, vật lực, tài lực,.
để tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn so với đối thủ cạnh tranh, đồng thời, biết lợi dụng các điều kiện khách quan một cách có hiệu quả để tạo ra lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ, xác lập vị thé cạnh tranh trên thị trường. - Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là toàn bộ những khả năng, năng lực mà doanh nghiệp đó có thể duy trì vị trí của nó trên thị trường cạnh tranh một cách lâu dài. Dé tồn tại, doanh nghiệp phải luôn vận động, thích nghi và vượt trội hơn đối thủ. - Khái niệm về năng lực cạnh tranh của sản phẩm trong kinh doanh lữ hành outbound Năng lực cạnh tranh của sản phâm của công ty du lịch là khả năng duy trì va cải thiện vị thế cạnh tranh (hiện tại và tương lai) của tour du lịch so với đối thủ cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, tính độc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu,.hơn so với những tour du lịch cùng loại của đối thủ cạnh tranh.
Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm trong kinh doanh lữ hành quốc tế outbound 2. Mức tăng trưởng lợi nhuận Lợi nhuận của doanh nghiệp du lịch trong kinh doanh lữ hành outbound là chênh lệch giữa giá bán của chương trình du lịch so với chi phí dé tạo ra và cung ứng chương trình đó tới khách hàng. Lợi nhuận được xem là mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp du lịch, là động lực thúc đây hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Một sản phẩm chương trình du lịch có năng lực cạnh tranh cao sẽ thé hiện qua việc nó có duy trì được mức tăng trưởng lợi nhuận tốt hay không.
Khi mức tăng trưởng cao, năng lực cạnh tranh của công ty càng lớn bởi đó là điều kiện thuận lợi dé mở rộng quy mô kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm va làm hài hòa lợi ích các bên có liên quan. Do đó, để đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp du lịch khi tham gia thị trường thì mức tăng trưởng lợi nhuận là một yêu tô căn bản. Chất lượng sản phẩm Giá cả đang dần không phải mối quan tâm hàng đầu khi mà đời sống của người dân ngày càng nâng cao hay đối với những nước có thu nhập cao. Thay vào đó, chất lượng của sản phẩm ngày càng được chú trọng hơn.
Vì vậy, chất lượng đang trở thành yếu tố quan trọng quyết định đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Đặc biệt với chương trình tour outbound, kỳ vọng về chất lượng thường khá cao do khách hàng thường có khả năng chi trả cao hơn so với tour nội địa. Một công ty theo đuổi chiến lược dị biệt hóa có thé dùng chất lượng sản phẩm dé tạo lợi thế cạnh tranh và đưa ra mức giá cao hơn đối thủ. Giá cả Giá cả là biểu tượng giá trị của sản phẩm, dịch vụ trong hoạt động trao đồi.
Bên cạnh đó, giá cũng là một trong các chỉ tiêu định lượng dé đánh giá năng lực cạnh tranh. Với những chương trình du lịch có các thành phần dịch vụ cấu thành và chất lượng tương đương nhau, giá cả chính là yếu tố quan trong tác động đến quyết định mua của khách hàng. Một sản phẩm có giá quá cao so với giá trị thật mà nó mang lại chắc chắn sẽ không thé tổn tại lâu trên thị trường. Tuy nhiên việc định giá cũng cần được cân đối để đảm bảo tiêu chí về lợi nhuận cho công ty.
Thương hiệu của doanh nghiệp Thương hiệu của doanh nghiệp là yếu tố vô hình in sâu vào nhận thức của du khách về một công ty du lịch nào đó. Nó là kết quả của cả một quá trình kinh doanh dài hạn của doanh nghiệp với những chiến lược đúng đắn, hợp lý. Một thương hiệu càng mạnh thì sản phẩm mang thương hiệu đó càng có lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Các yếu tố ảnh hưởng đến thương hiệu như: - SỐ lượng khách hàng mới Khách hàng là yếu tố quan trọng của doanh nghiệp, là yếu tố đánh giá sự phát triển của một doanh nghiệp vì nó đồng nghĩa với việc tăng doanh thu và lợi nhuận.
Một sản phẩm có thương hiệu có nghĩa là sản phẩm đó đã được tin tưởng bởi đại đa số khách hàng trong phân khúc mà sản phẩm đó nhăm đến. Vì thế theo tâm lý đám đông thì những khách hàng mới lọt vào phân khúc mà sản phẩm nhắm đến thì tỷ lệ khách hàng đó lựa chọn sản phẩm và dịch vụ đã có thương hiệu sẽ cao hơn. - Mức độ khách hàng trung thành 17 Có thể nhận định rằng, khách hàng trung thành là tài sản lớn nhất của một thương hiệu. Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt của ngành du lịch, việc chuyên sang dùng sản phẩm của đối thủ là rất dễ dàng thì giữ chân được khách hàng càng cho thấy độ uy tín của thương hiệu đó.
- Có thể đưa ra chính sách giá cao Định giá cao và người tiêu dùng sẵn sàng bỏ tiền nhiều hơn để mua một sản phẩm có thương hiệu vì chắc chắn một điều là ngoài giá trị thực của sản phâm ho đã bằng lòng trả thêm tiền cho một giá trị khác nữa khi sử dụng sản phẩm đó là tài sản cụ thể nhất mà thương hiệu có được.