CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1 Doanh nghiệp Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm gia tăng giá trị của chủ sở hữu. Là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân. Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanh nghiệp chứ không phải các cá nhân. Theo Luật doanh nghiệp ban hành ngày 19/11/2005 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Tức là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Như vậy, doanh nghiệp phần mềm là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, có tham gia sản xuất, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ phần mềm. Kinh doanh của các doanh nghiệp phần mềm có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, lĩnh vực phần mềm luôn gắn liền với sự phát triển của khoa học công nghệ cũng và khả năng ứng dụng các thành tựu công nghệ vào sản phẩm, dịch vụ. Khi khoa học công nghệ thay đổi, các doanh nghiệp cần nắm bắt, vận dụng vào các sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
5 Thứ hai, sự khác biệt giữa các doanh nghiệp chủ yếu là các dịch vụ phần mềm. Do các sản phẩm trên thị trường không có sự khác biệt lớn, giá trị gia tăng thấp. Ngược lại, các dịch vụ phần mềm mang yếu tố vô hình, có giá trị gia tăng cao, phục vụ được hầu hết các nhu cầu đa dạng của khách hàng. Thứ ba, nhu cầu sử dụng các sản phẩm phần mềm theo yêu cầu riêng của khách hàng ngày càng gia tăng.
Thứ tư, yêu cầu đối với đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Vì các sản phẩm, dịch vụ phần mềm bao hàm yếu tố khoa học công nghệ, đòi hỏi con người phải am hiểu, có trình độ cao, đáp ứng được sự thay đổi không ngừng của công nghệ. Thứ năm, lĩnh vực phần mềm đòi hỏi tuân thủ theo một quy trình sản xuất chặt chẽ, đòi hỏi độ chính xác cao. Do sản phẩm đầu ra là vô hình, vì thế quá trình sản xuất từ công đoạn thu thập yêu cầu, phân tích, thiết kế, kiểm thử…cần có sự kiểm soát tốt, như vậy mới đảm bảo yêu cầu chất lượng của sản phẩm.
Do vậy, để cạnh tranh có hiệu quả, các doanh nghiệp phần mềm luôn luôn phải thay đổi, cần có những giải pháp phù hợp với sự thay đổi của thị trường cũng như thay đổi của công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, củng cố và gia tăng vị thế của doanh nghiệp. Sản phẩm, dịch vụ doanh nghiệp cung ứng ra thị trường Theo Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29/06/2006 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp phần mềm phân chia theo hai nhóm: Nhóm thứ nhất: bao gồm thiết kế, sản xuất và cung cấp sản phẩm phần mềm bao gồm sản xuất phần mềm đóng gói, sản xuất phần mềm theo đơn đặt hàng, sản xuất phần mềm nhúng, hoạt động gia công phần mềm. - Phần mềm đóng gói: Là những sản phẩm phần mềm hoàn chỉnh, được 6 đăng ký thương hiệu và nhân bản hàng loạt để cung cấp ra thị trường. Các sản phẩm này có thể sử dụng được ngay sau khi được cài đặt vào các thiết bị hay hệ thống.
- Phần mềm sản xuất theo hợp đồng: Là phần mềm được sản xuất theo các yêu cầu riêng của khách hàng hoặc người sử dụng. Đây là sản phẩm đơn lẻ, không được cung cấp rộng rãi ra thị trường. - Phần mềm nhúng: Là sản phẩm được nhà sản xuất cài đặt sẵn vào thiết bị số và hoạt động cùng với thiết bị mà không cần sự kích hoạt của người sử dụng. - Hoạt động gia công phần mềm: Là hoạt động trong đó bên nhận gia công thực hiện việc sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ phần mềm hoặc thực hiện một số công đoạn để hoàn thành sản phẩm, dịch vụ phần mềm theo yêu cầu của bên thuê gia công.
Nhóm thứ hai: Các dịch vụ phần mềm, bao gồm: - Dịch vụ quản trị, bảo hành, bảo trì hoạt động của phần mềm và hệ thống thông tin - Dịch vụ tư vấn, đánh giá, thẩm định chất lượng phần mềm - Dịch vụ tư vấn, xây dựng dự án phần mềm - Dịch vụ tư vấn định giá phần mềm - Dịch vụ chuyển giao công nghệ phần mềm - Dịch vụ tích hợp hệ thống - Dịch vụ bảo đảm an toàn, an ninh cho sản phẩm phần mềm, hệ thống thông tin - Dịch vụ phân phối, cung ứng sản phẩm phần mềm - Các dịch vụ phần mềm khác Đối với người tiêu dùng sản phẩm, chính các dịch vụ phần mềm tạo nên sự khác biệt giữa các nhãn hiệu phần mềm, các doanh nghiệp phần mềm. Vì 7 vậy, đây được coi là một công cụ cạnh tranh hiệu quả của các doanh nghiệp phần mềm. Thông thường, khách hàng luôn luông mong muốn mua một sản phẩm có kèm theo các dịch vụ phụ trợ như dịch vụ cài đặt, đào tạo, hướng dẫn sử dụng, nâng cấp, bảo trì… 1.2 Cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh là tiền đề, là động lực thúc đẩy quá trình sản xuất, kinh doanh phát triển.
Đồng thời, thông qua cạnh tranh, các doanh nghiệp tích cực nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến tạo ra các sản phẩm tốt hơn, đẹp hơn với chi phí thấp hơn, tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn. Có rất nhiều học giả nghiên cứu về cạnh tranh theo các cách tiếp cận khác nhau và đưa ra các quan điểm khác nhau về khái niệm cạnh tranh. Theo Các Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch” [13, tr. Khi bàn về cạnh tranh, Adam Smith cho rằng nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau thì cạnh tranh buộc mỗi các nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác.
Ngược lại, chỉ có mục đích lớn lao nhưng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra được bất kỳ sự cố gắng lớn nào. Như vậy, có thể hiểu rằng cạnh tranh khơi dậy sự nỗ lực chủ quan của con người, góp phần làm tăng của cả của nền kinh tế. Nhà kinh tế học P.Samuelson cho rằng: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để giành khách hàng, thị trường”.14] Theo Từ điển Bách khoa của Việt Nam: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương 8 nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất” [56]. Với tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm: “Cạnh tranh trong thị trường không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải đối thủ cạnh tranh của mình.
Trong cuộc tranh tài giữa các doanh nghiệp để phục vụ khách hàng mỗi ngày tốt hơn, doanh nghiệp nào hài lòng với vị thế trên thị trường sẽ rơi vào tình trạng tụt hậu và sẽ bị đào thải với một vận tốc nhanh không thể ngờ trong một thị trường thế giới ngày càng nhiều biến động” [14, tr. Mặc dù còn nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh, song những quan điểm trên lại có những điểm thống nhất như: - Cạnh tranh là sự ganh đua giữa một người (hoặc một nhóm người) nhằm giành lấy phần thắng so với nhiều chủ thể cùng tham gia. Cạnh tranh làm tăng vị thế của người này và làm giảm vị thế của người khác trong cùng một thời điểm. - Cạnh tranh thường diễn ra trong một môi trường cụ thể, có ràng buộc về điều kiện đối với các thành viên tham gia như: điều kiện pháp lý, tập quán kinh doanh, thị trường, đặc tính sản phẩm… - Mục đích cuối cùng của cạnh tranh là chủ thể giành phần thắng sẽ kiếm được lợi nhuận cao hơn.
- Các chủ thể có thể sử dụng các công cụ khác nhau để cạnh tranh. Như vậy, có thể khẳng định, cạnh tranh là quá trình mà chủ thể tìm mọi biện pháp để vượt qua đối thủ trong một lĩnh vực nhất định. Cạnh tranh là tiền đề cho sự đổi mới, sáng tạo, chuẩn bị tiềm lực tốt nhất để ứng phó với những thay đổi của thị trường. Vậy cạnh tranh trong lĩnh vực phần mềm là sự tranh đua giữa các DNPM 9 với nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành phần thắng trên thị trường về thu hút khách hàng, mở rộng thị phần, xây dựng uy tín, hình ảnh…nhằm khẳng định vị trí vượt trội của doanh nghiệp so với doanh nghiệp khác cùng lĩnh vực trên thị trường.2 Nội dung cạnh tranh của doanh nghiệp Để theo đuổi các lợi thế vượt trội so với các đối thủ cùng ngành, các doanh nghiệp thường cạnh tranh bằng các nội dung sau: a.
Cạnh tranh bằng giá Chiến lược giá cả là một công cụ cạnh tranh sắc bén của mỗi doanh nghiệp. Khi sử dụng một sản phẩm, dịch vụ, yếu tố luôn được khách hàng quan tâm là giá cả. Để thực hiện cạnh tranh, một số doanh nghiệp phần mềm thực hiện chính sách giá thấp. Bằng việc hi sinh lợi ích trong ngắn hạn là doanh thu và lợi nhuận giảm, thậm chí có thể thua lỗ để đổi lấy lợi ích trong dài hạn là mục tiêu chiếm lĩnh thị trường, doanh nghiệp sẽ có thêm thị phần và khả năng gia tăng lợi nhuận trong tương lai.
Chính sách giá cao cũng được áp dụng, tuy nhiên, điều kiện tiên quyết để thực hiện chính sách giá này là sản phẩm mới lần đầu được tung ra thị trường, chưa có sản phẩm cạnh tranh, người tiêu dùng chưa biết rõ về sản phẩm và chưa có điều kiện để so sánh về giá cả và chất lượng.