PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài luận án Việt Nam là một nước đang phát triển, nền kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Trong giai đoạn chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, các ngành công nghiệp, nông nghiệp theo hướng hiện đại. Việt Nam có thị trường bán lẻ luôn phát triển trong những năm gần đây, ngày càng hội nhập sâu rộng với quốc tế.
Nền kinh tế nói chung luôn phát triển có nhiều điểm tích cực và được quốc tế đánh giá cao. Việt Nam được xếp vào một trong những thị trường bán lẻ phát triển nhanh ở châu Á Thái Bình Dương và được đánh giá có rất nhiều tiềm năng trong tương lai. Theo Tổ chức Tư vấn AT Kearney (Mỹ) [106] nhận định thị trường bán lẻ với mức tăng trưởng nhanh, đang trở thành một thị trường hấp dẫn để các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài đầu tư, tìm kiếm lợi nhuận tại Việt Nam. Hiện nay với dân số gần 100 triệu dân, trong đó lực lượng dân số trẻ chiếm hơn một nửa; Ngoài ra, GDP bình quân đầu người năm 2020 của nước ta đạt trên 2.700 USD/người và sẽ ngày càng tăng lên trong tương lai; đây là những yếu tố thuận lợi giúp thêm thị trường phát triển hơn trong tương lai.
Tính đến cuối năm 2020, cả nước có khoảng 1.163 siêu thị, 250 trung tâm thương mại và 8. Các siêu thị và trung tâm thương mại phần lớn tập trung tại các thành phố lớn và khu vực nội thành, trong khi khu vực nông thôn, ngoại thành chưa xuất hiện nhiều các hệ thống bán lẻ, chỉ chủ yếu phân phối hàng theo từng đợt. Điều này có thể nói thị phần bán lẻ dành cho các DNBL đang còn nhiều dư địa để mở rộng. Theo lộ trình đã cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, các nhà bán lẻ nước ngoài hiện đã được phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn tại Việt Nam.
1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoại trừ thực hiện quy định về Kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT)1 đã có trong cam kết gia nhập WTO và đã được cụ thể hóa tại Nghị định số 09/2018/NĐ- CP của Chính phủ, thị trường bán lẻ (TTBL) hoàn toàn mở cửa cho các nhà đầu tư ngoại. Các tập đoàn nước ngoài đầu tư vào TTBL Việt Nam với quy mô kinh doanh ngày càng lớn. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài còn thâm nhập vào Việt Nam theo con đường liên doanh với doanh nghiệp bán lẻ trong nước. Hiện nay, các Tập đoàn bán lẻ nước ngoài tiếp tục đầu tư và gia tăng thị phần tại thị trường Việt Nam.
Ví dụ các tập đoàn lớn như Aeon (Nhật Bản) dự kiến tiếp tục mở rộng trung tâm mua sắm. Các tập đoàn khác như Tập đoàn Lotte (Hàn Quốc), Central Retail (Thái Lan) sở hữu chuỗi siêu thị Big C và nay đã đổi thên thành Go và Tops Market, với hệ thống nhiều siêu thị trên toàn quốc cũng đang lên kế hoạch tiếp tục mở rộng mạng lưới bán lẻ; B’s Mart (Thái Lan) cũng lên kế hoạch mở rộng mạng lưới cơ sở bán lẻ tại Việt Nam. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư ngoại đã và đang tăng cường đầu tư vào TTBL Việt Nam bằng các thương vụ sáp nhập và mua bán để gia tăng thị phần. Như vậy, các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài đang gia tăng áp lực cạnh tranh lên các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam.
So với các đối thủ ngoại, các doanh nghiệp bán lẻ nội địa có rất nhiều khó khăn và hạn chế, cụ thể như: - Năng lực tài chính của nhà bán lẻ nội yếu so với doanh nghiệp ngoại. Các doanh nghiệp bán lẻ ngoại, với tiềm lực tài chính mạnh, thương hiệu lớn và có mối quan hệ với nhiều đối tác trên thế giới luôn mở rộng và chiếm lĩnh thị phần tại Việt Nam. Điều này đang gia tăng áp lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam với nguy cơ bị thua ngay trên sân nhà. 1 Theo Điều 23 (Kiểm tra nhu cầu kinh tế ENT) Nghị định số 09/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam có sức cạnh tranh thấp và yếu về nhiều mặt, trong đó có một số điểm như: tính chuyên nghiệp, chiến lược dài hạn, và hậu cần cho hệ thống bán lẻ như kho bảo quản, kho lạnh, xe tải chuyên dụng, mặt bằng kinh doanh… thiếu đồng bộ, chưa đạt chuẩn khu vực và quốc tế, chưa xây dựng được vùng cung cấp nguồn hàng ổn định để tiêu thụ, tính chủ động trong hợp tác, liên doanh liên kết thu mua và tiêu thụ hàng hóa còn rời rạc. - Các nhà bán lẻ trong nước hoạt động đa phần chưa chuyên nghiệp (nhất là các doanh nghiệp bán lẻ nhỏ và vừa), trình độ quản trị còn nhiều hạn chế chưa khẳng định được uy tín với người tiêu dùng trong nước. Trong khi các nhà bán lẻ ngoại đều là những tập đoàn lớn trên thế giới, với bề dày nhiều kinh nghiệm quản lý. - Nhiều nhà bán lẻ nội địa thiếu các vị trí thuân lơi cho mặt bằng kinh doanh.
Nhiều địa điểm với vị trí thuận lơi thì nhiều địa phương lâu nay thường ưu ái cho doanh nghiệp ngoại. - Bên cạnh đó, cơ chế và chính sách từ các cơ quan quản lý nhà nước hỗ trợ cho doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế, chưa thực sự hiệu quả. Khó khăn của các doanh nghiệp bán lẻ nội địa hiện nay là nguồn vốn, mặt bằng kinh doanh và nguồn nhân lực. Các doanh nghiệp này đang rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước về nguồn vốn kinh doanh, thuê mua mặt bằng và đào tạo nhân lực.
Chính vì vậy cần có các giải pháp để năng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp bán lẻ nội địa ở Việt Nam. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam tại thị trường trong nước” làm luận án tiến sĩ của mình nhằm góp phần giúp các nhà bán lẻ Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh tại thị trường bán lẻ trong nước. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiêp, nghiên cứu về ngành bán lẻ và doanh nghiệp bán lẻ đã được đề cập khá nhiều từ các đề tài nghiên cứu, công trình nghiên cứu khoa học ngoài nước và trong nước.
Việc nghiên cứu tổng quan đến đề tài là một trong những nhiệm vụ quan trọng, góp phần đặt nền móng cho quá trình nghiên cứu đề tài. Tình hình nghiên cứu liên quan đề tài ở nước ngoài 2. Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp - Tác giả Michael Porter (1979) [95] trong cuốn “ How competitive force shape strategy” đã đưa ra mô hình Kim cương, nêu lên các yếu tố ảnh hưởng đến sự cạnh tranh thương mại trong hội nhập quốc tế của quốc gia, gồm những yếu tố: (i) yếu tố về cầu, (ii) các yếu tố sản xuất, (iii) các yếu tố liên quan đến các ngành phụ trợ; (iv) chiến lược, cơ cấu, cạnh tranh ngành. Trong nền kinh tế thế giới như hiện nay thì theo Michael Porter, nền tảng cạnh tranh sẽ có sự dịch chuyển từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh mà tự nhiên ban cho, dịch chuyển sang những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và duy trì vị thế cạnh tranh lâu dài của các doanh nghiệp trên thương trường quốc tế [28], [51].
Trong mô hình Kim cương của Michael Porter, các nhóm yếu tố có mối quan hệ, liên kết hỗ trợ lẫn nhau. Điều này dẫn đến việc xây dựng và phát triển khả năng cạnh tranh của các công ty cùng một ngành kinh tế trong hoàn cảnh hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Để tăng cường nâng cao năng lực cạnh tranh của một ngành và giúp cho sự phát triển bền vững ngành thì cần huy động các nguồn lực cả bên trong lẫn bên ngoài. Đồng thời, giúp công ty tận dụng và nắm bắt được những thời cơ, vận hội một cách kịp thời, có các chiến lược phát triển, linh hoạt đáp ứng sự biến động cạnh tranh trong hội nhập.
Bên 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cạnh đó, các yếu tố như quan điểm đường lối, chiến lược quản trị, điều hành, nhân sự …sẽ thôi thúc các công ty đổi mới tư duy sáng tạo, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, chất lượng dịch vụ, hàng hóa để kịp thời đáp ứng phục vụ người tiêu dùng và thị trường. Các chính sách của doanh nghiệp trong việc khai thác, phân phối linh động các nguồn lực là rất quan trọng. Đặc biệt ở đây, tiêu chí điều hành và quản lý nhà nước có vị trí quan trọng, ảnh hưởng đến các những nhóm yếu tố cạnh tranh của mô hình kim cương; đảm bảo cho sự phát triển đồng bộ, công bằng và thuận lợi nhất cho các công ty, doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trong nước và trên thế giới [28],[35],[95],[80]. - Mô hình 5 áp lực cạnh tranh: Theo Micheal Porter trong cuốn sách tiếng Việt “Chiến lược cạnh tranh” [28], đã đưa ra phương pháp phân tích ngành và đối thủ cạnh tranh, trong đó có đưa ra mô hình 5 áp lực cạnh tranh.
Các doanh nghiệp thường sử dụng mô hình này đánh giá phân tích xem mức độ cạnh tranh trong một ngành. Theo Micheal Porter cường độ cạnh tranh trên thị trường trong một ngành chịu tác động của 5 lực lượng cạnh tranh sau [28], [51]: (1) Áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp: nhà cung cấp có thể gây áp lực nhất định nếu như họ sự tập hợp và có quy mô.