Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về năng lực cạnh tranh marketing của doanh nghiệp bán lẻ nói chung và siêu thị điên máy nói riêng Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh marketing của các siêu thị điện máy trên thị trường Hà Nội Chương 3: Một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh marketing của các siêu thị điện máy trên thị trường Hà Nội giai đoạn đến 2025. 13 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về năng lực cạnh tranh marketing của doanh nghiệp bán lẻ nói chung và siêu thị điện máy nói riêng. Một số khái niệm và lý luận căn bản 1. Thị trƣờng và siêu thị điện máy Quản trị MKT khái niệm thị trường thực tế và trực quan sinh động hơn.
Các chuyên gia MKT sử dụng thuật ngữ thị trường để bao hàm các nhóm KH khác nhau. Họ xem người bán như là nhân tố cấu thành ngành, và người mua như là nhân tố cấu thành thị trường. Họ nói về các thị trường nhu cầu (thị trường ăn kiêng), thị trường sản phẩm (thị trường giày dép), thị trường nhân khẩu học (thị trường trẻ) và thị trường địa lý (thị trường Trung Quốc); hoặc mở rộng khái niệm nhằm bao hàm các thị trường bầu cử, thị trường nhân lực, thị trường showbiz…) 1. Thị trường bán lẻ hàng hoá theo tiếp cận marketing Theo Kotler và Keller (2015) [13], nhà nghiên cứu về ngành tiếp thị nổi tiếng trên thế giới, khái niệm bán lẻ được định nghĩa trong cuốn “Quản trị Marketing” như sau: “Bán lẻ là mọi hoạt động nhằm bán các sản phẩm là hàng hoá hoặc dịch vụ trực tiếp cho NTD cuối cùng để họ sử dụng cho cá nhân, không mang tính thương mại”.
Theo đó bất cứ tổ chức bao gồm NSX, nhà bán buôn hoặc nhà bán lẻ bán cho NTD cuối cùng đều làm chức năng bán lẻ; bất kể sản phẩm là hàng hoá hay dịch vụ được bán thông qua người bán, qua thư tín, điện thoại, máy bán hàng tự động, bán qua thương mại điện tử hoặc bất cứ chúng được bán ở đâu dù là trên đường phố, trong cửa hàng hoặc tại nhà của KH (Goworek và McGoldrick, 2015). Khái ni m Thị trường bán lẻ là nơi mà các nhà bán lẻ và NTD thực hiện các hoạt động mua bán. Trong đó, khái niệm cung bán lẻ ở đây bao gồm tất cả các tổ chức hay cá nhân mua hàng hoá bán lại với mục đích kiếm lời; cầu bán lẻ là những NTD cuối cùng, có nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ (Kotler, 2007) Đặ ểm Hàng hoá được bán trực tiếp, thẳng đến tay NTD cuối cùng không phục vụ cho mục đích kinh doanh hay bất cứ mục đích thương mại nào khác mà chỉ để phục vụ mục đích tiêu dùng. Đây là một trong những đặc trưng cơ bản nhất của thị trường hàng hoá bán lẻ.
Người mua hàng sẽ là NTD cuối cùng. Hàng hoá một khi được định giá và định khối lượng giữa người bán và người mua sẽ không có cơ hội quay lại thị trường nữa, kết thúc vòng luân chuyển hàng hoá. 14 Tính chất đa dạng của thị trường bán lẻ thể hiện qua các khía cạnh về thương hiệu hàng hoá khác nhau, chủng loại, sản phẩm từ thông thường đến cao cấp, thời hạn sử dụng từ ngắn ngày đến dài ngày đáp ứng được nhu cầu của tất cả các đối tượng khách hàng. Sản phẩm tại các điểm bán lẻ: Có thể là hình thức chuyên kinh doanh về một mặt hàng, hoặc kinh doanh một tập hợp các mặt hàng, chẳng hạn như hình thức bán lẻ tại các siêu thị số mặt hàng có thể lên tới hàng nghìn loại sản phẩm từ hàng trăm NSX.
Khách hàng có thể mua rất nhiều loại sản phẩm chỉ tại một điểm kinh doanh. Phân loại Bán lẻ thông qua cửa hàng: Đối với hình thức bán lẻ thông qua các cửa hàng có thể phân loại căn cứ vào chủng loại hàng hoá kinh doanh: Gồm các cửa hàng chuyên doanh, siêu thị, các cửa hàng bách hoá tổng hợp, các cửa hàng phục vụ nhu cầu thường ngày; căn cứ vào sự quan tâm về giá của các nhà bán lẻ có thể chia thành: Các cửa hàng hạ giá, bán hàng theo mẫu, bán lẻ lộng giá; căn cứ vào mức độ dịch vụ mà nhà bán lẻ cung cấp có thể phân loại thành: Cửa hàng bán lẻ tự phục vụ, bán lẻ tự chọn, bán lẻ phục vụ hạn chế, bán lẻ phục vụ đầy đủ. Bán lẻ không thông qua cửa hàng: là hình thức bán lẻ hàng hoá không thông qua các cửa hàng, thay vào đó là bán hàng thông qua: máy bán hàng tự động, qua điện thoại, qua thương mại điện tử hay bán lẻ phục vụ trực tiếp tại nhà. Xét theo kênh phân phối: có thể phân loại thị trường bán lẻ thành 2 kênh phân phối đó là phân phối truyền thống và phân phối hiện đại (Mai Thanh Lan và các cộng sự, 2015).
Vai trò trong nền kinh t xã hội hi n nay Thị trường bán lẻ đang là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế xã hội hiện nay, cụ thể biểu hiện qua một số khía cạnh như sau: Thứ nhất, thị trường bán lẻ là cầu nối quan trọng giữa NSX tới tay NTD. Thứ hai, thị trường bán lẻ là kênh cung cấp thông tin từ NSX đến NTD và ngược lại phản hồi thông tin từ NTD tới NSX. Thứ ba, thị trường bán lẻ là công cụ phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh và mức sống của dân cư trong xã hội hiện nay. Thứ tư, thị trường bán lẻ giúp Nhà nước xây dựng những chính sách phát triển kinh tế và định hướng trong tiêu dùng.
Thứ năm, thị trường bán lẻ là yếu tố giữ vai trò quan trọng trong quá trình tái sản xuất mở rộng xã hội. Siêu thị bán lẻ và siêu thị bán lẻ hàng điện máy Siêu th bán lẻ Một cách tổng quát, cơ sở kinh doanh thương mại được gọi là siêu thị nếu có địa điểm kinh doanh phù hợp với quy hoạch phát triển mạng lưới thương mại của tỉnh, thành phố và có quy mô, trình độ tổ chức kinh doanh đáp ứng được cái quy chuẩn cơ bản của một trong ba hạng theo phân loại của quy định (Quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24/09/2004) dưới đây: Siêu thị hạng I Áp dụng đối với các siêu thị kinh doanh tổng hợp: Có diện tích từ 5.000 m2 trở lên; có danh mục hàng hoá từ 20.000 tên hàng trở lên; Có công trình kiến trúc đảm bảo an toàn, thẩm mỹ, đầy đủ các chức năng về phòng cháy chữa cháy, vệ sinh,…; Có hệ thống kho và các thiết bị bảo quản, sơ chế, đóng gói, bán hàng, thanh toán và quản lý kinh doanh tiên tiến, hiện đại. Áp dụng với các siêu thị chuyên doanh: Tiêu chuẩn diện tích từ 1000 m2 trở lên, các tiêu chuẩn khách như siêu thị kinh doanh tổng hợp. Siêu thị hạng II Áp dụng đối với siêu thị kinh doanh tổng hợp: Có diện tích từ 2000 m2 trở lên; có danh mục hàng hoá từ 10.000 tên hàng trở lên; Có công trình kiến trúc đảm bảo an toàn, thẩm mỹ, đầy đủ các chức năng về phòng cháy chữa cháy, vệ sinh,…; Có hệ thống kho và các thiết bị bảo quản, sơ chế, đóng gói, bán hàng, thanh toán và quản lý kinh doanh tiên tiến, hiện đại.
Áp dụng đối với các siêu thị chuyên doanh: Tiêu chuẩn diện tích từ 500 m2 trở lên, tiêu chuẩn danh mục hàng hoá từ 1000 tên hàng trở lên, các tiêu chuẩn khác như siêu thị kinh doanh tổng hợp. Siêu thị hạng III Áp dụng đối với siêu thị kinh doanh tổng hợp: Có diện tích từ 500 m2 trở lên; có danh mục hàng hoá từ 4.000 tên hàng trở lên; Có công trình kiến trúc đảm bảo an toàn, thẩm mỹ, đầy đủ các chức năng về phòng cháy chữa cháy, vệ sinh,…; Có hệ thống kho và các thiết bị bảo quản, sơ chế, đóng gói, bán hàng, thanh toán và quản lý kinh doanh tiên tiến, hiện đại. Áp dụng đối với các siêu thị chuyên doanh: Tiêu chuẩn diện tích từ 250 m2 trở lên, tiêu chuẩn danh mục hàng hoá từ 500 tên hàng trở lên, các tiêu chuẩn khác như siêu thị kinh doanh tổng hợp. 16 Siêu th bán lẻ hàng n máy Siêu thị điện máy (bán lẻ hàng điện máy) là mô hình bán lẻ chuyên biệt kinh doanh các mặt hàng có cùng tính chất liên quan đến máy, điện tử, có thể kể đến các mặt hàng như: tủ lạnh, máy giặt, điều hoà, bếp điện,…Các mặt hàng có thể là của nhiều hãng khác nhau tuy nhiên cùng hướng đến một phân khúc thị trường cụ thế và một nhóm đối tượng khách hàng nhất định.
Những nhà kinh doanh cung cấp các dịch vụ điện máy để thoả mãn nhu cầu về điện máy của KH như phân phối, tín dụng, dịch vụ khách hàng (DVKH), đặt hàng qua thư, máy tính,… Các STĐM có khả năng duy trì sự hiện diện quảng cáo ở mức độ cao bằng việc tập trung ngân sách dành cho quảng cáo và xúc tiến bán hàng một cách hiệu quả vào nhóm các phân khúc KH mục tiêu. Quan niệm quản trị marketing dựa trên giá trị Quan niệm quản trị MKT dựa trên giá trị được xác lập từ 04 khái niệm cốt lõi sau: 1. Giá trị và sự thỏa mãn khách hàng Những nghiên cứu thực chứng và học thuật thời gian qua đã chỉ ra rằng, trong bối cảnh phải đối diện với càng nhiều những lựa chọn thương hiệu và sản phẩm, giá bán và nhà cung cấp (NCC), các khách hàng trên cơ sở đánh giá xem sản phẩm và chào hàng thị trường nào cung ứng giá trị tốt nhất, đáp ứng cao nhất về giá trị và sự thỏa mãn của cá nhân để quyết định mua và xác suất mua lặp lại. Trong đó, tổng giá trị khách hàng là một tập các lợi ích mà KH nhận được từ một chào hàng thị trường; tổng chi phí khách hàng là một tập các chi phí mà KH phải bỏ ra trong tìm kiếm, đánh giá, dành được, sử dụng và loại bỏ sản phẩm/dịch vụ (SP/DV) từ chào hàng thị trường đó.