CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ CHUỖI CUNG ỨNG BÁN LẺ 1. Tổng quan về chuỗi cung ứng và quản lý chuỗi cung ứng 1. Khái niệm về chuỗi cung ứng Toàn cầu hoá, đặc biệt với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, đang đặt các doanh nghiệp đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Theo nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế, ngày nay, các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau bằng chuỗi cung ứng chứ không còn cạnh tranh bằng giá, hay bằng chất lượng sản phẩm như trước nữa.
Điều này buộc các doanh nghiệp phải tìm cách làm sao để kiểm soát được dòng nguyên vật liệu, cách thức đóng gói, vận chuyển, bảo quản và đưa đến tay người tiêu dùng cuối cùng, tức là phải xây dựng một chuỗi cung ứng của riêng mình, trong đó thiết lập được mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà sản xuất với nhà cung cấp và giữa nhà sản xuất với khách hàng. Đã có nhiều công trình nghiên cứu theo nhiều hướng tiếp cận để xây dựng những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “chuỗi cung ứng”. Theo Stock & Elleam (1998), chuỗi cung ứng là sự liên kết với các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường. Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng (Ganesham & cộng sự, 1995).
Trong khi đó, Sunil Chopra & Pete Meindl (2007) lại tiếp cận ở một góc độ khác và cho rằng Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn gồm nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng. Tóm lại, dù tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, các định nghĩa về chuỗi cung ứng đều có những điểm chung và được định nghĩa là hệ thống các tổ chức, con người và cơ sở hạ tầng có liên quan đến việc đưa sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Các hoạt động của chuỗi cung ứng là quá trình chuyển đổi từ các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất thành những sản phẩm hoàn chỉnh và phân phối đến 11 người tiêu dùng cuối cùng Mục tiêu mà một chuỗi cung ứng hướng tới là việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng trong tiến trình tạo ra lợi nhuận cho chính nó.
Hoạt động của chuỗi cung ứng bắt đầu với một yêu cầu của khách hàng và kết thúc khi khách hàng thanh toán đơn đặt hàng của họ. Vì vậy, để giảm thiểu chi phí và cải tiến mức độ phục vụ thì các chiến lược chuỗi cung ứng hiệu quả phải xem xét đến sự tương tác với khách hàng ở các cấp độ khác nhau trong chuỗi cung ứng. Khái niệm về quản lý chuỗi cung ứng Từ đầu những năm 1980, các thuật ngữ vận chuyển, phân phối và quản trị nguyên vật liệu đã bắt đầu được hợp nhất trong một thuật ngữ, đó là quản lý chuỗi cung ứng (SCM). Thuật ngữ này được sử dụng một cách phổ biến vào những năm 1990.
Trước đó, các doanh nghiệp sử dụng các thuật ngữ như “logistics” hay “quản trị tác nghiệp” để thay thế. Vai trò của quản lý chuỗi cung ứng càng ngày được khẳng định như một vũ khí chiến lược mà các nhà quản trị đều mong muốn tận dụng những lợi ích mà nó mang lại. Lee và cộng sự (1995) cho rằng, quản lý chuỗi cung ứng là việc tích hợp các hoạt động xảy ra ở các cơ sở của mạng lưới nhằm tạo ra nguyên vật liệu, chuyển dịch chúng vào sản phẩm trung gian và sau đó đến sản phẩm cuối cùng và phân phối chúng đến khách hàng thông qua hệ thống phân phối. John (2001) lại định nghĩa hoàn toàn khác biệt khi cho rằng quản lý chuỗi cung ứng là sự kết hợp mang tính chiến lược, có hệ thống các chức năng kinh doanh truyền thống đồng thời đề ra sách lược phối hợp các chức năng này trong một công ty cụ thể cũng như liên kết các doanh nghiệp trong một chuỗi cung ứng nhằm mục đích nâng cao năng lực của từng công ty và toàn bộ chuỗi cung ứng trong dài hạn Quản lý chuỗi cung ứng là quản lý các mối quan hệ nhiều chiều giữa các nhà cung cấp và khách hàng nhằm phân phối đến khách hàng giá trị cao hơn với chi phí thấp hơn trong toàn bộ chuỗi cung ứng.
Mục tiêu quản lý chuỗi cung ứng là tối ưu hóa giá trị sản phẩm cho khách hàng, hay nói cách khác là tối đa hóa giá trị tạo ra cho toàn hệ thống. (Christopher, 2005) FAO (2007) mở rộng hơn khái niệm của Christopher (2005): “Quản lý chuỗi cung ứng là quy hoạch, tổng hợp, thực hiện, phối hợp và kiểm soát của tất cả các quy trình kinh doanh và các hoạt động cần thiết để sản xuất và cung cấp một cách hiệu 12 quả nhất có thể các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường”. Như vậy, trong định nghĩa này ngoài sự phối hợp còn phải kiểm soát, tổng hợp, quy hoạch và thực hiện các hoạt động Nói một cách đơn giản, chúng ta có thể hiểu quản lý chuỗi cung ứng là việc doanh nghiệp tạo ra những ảnh hưởng nhất định vào sự vận hành của chuỗi cung ứng để đạt được những kết quả như mong muốn. Cụ thể là doanh nghiệp phải hiểu được vai trò của các khâu trong chuỗi cung ứng và phải tìm được sự phối hợp hợp lí giữa các khâu này.
Quản lý chuỗi cung ứng nhấn mạnh đến việc định vị các tổ chức theo cách thức không chỉ có lợi cho mình mà còn giúp cho tất cả các thành viên trong chuỗi cung ứng đều được lợi. Bởi sự thành công của mỗi thành viên đều mang lại những lợi ích nhất định cho các thành viên còn lại. Vì thế để quản lý chuỗi cung ứng một cách hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tin tưởng, sự hợp tác giữa các thành viên. Các đối tượng tham gia chuỗi cung ứng Với một hình thức đơn giản nhất, một chuỗi cung ứng luôn bao gồm một nhà cung cấp, nhà sản xuất và khách hàng.
Đây là nhóm đối tượng cơ bản của một chuỗi cung ứng đơn giản như hình 1.1: Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản Nguồn: Nguyễn Công Bình (2008) Tuy nhiên trong xu thế hiện nay, khi mà cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường càng ngày càng trở nên gay gắt hơn, vòng đời sản phẩm càng ngắn đi, khách hàng càng ngày càng trở nên thông thái và “khó tính” hơn trong việc lựa chọn hàng hóa, dịch vụ; chính vì thế mà các doanh nghiệp thường tập trung vào các chức năng cốt lõi của mình, còn lại sẽ sử dụng các dịch vụ thuê ngoài. Những doanh nghiệp sống sót và thịnh vượng trên thị trường là những doanh nghiệp biết kinh doanh bằng phương pháp hiệu quả hơn đối thủ- giảm chi phí kinh doanh trong khi vẫn đảm bảo chất lượng cao của hàng hóa hay dịch vụ. Vì vậy mà hiện nay có rất ít các doanh nghiệp có thể duy trì chuỗi cung ứng 13 đơn giản. Hầu hết chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp sẽ là chuỗi cung ứng mở rộng.
Chuỗi cung ứng này bao gồm những thành viên: nhà cung cấp, nhà phân phối, nhà sản xuất, nhà bán lẻ, khách hàng( cuối cùng) và nhà cung cấp dịch vụ. Mô hình sau đây mô tả về chuỗi cung ứng mở rộng: Hình 1.2: Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng Nguồn: Nguyễn Công Bình (2008) Nhà cung cấp dịch vụ trong chuỗi cung ứng mở rộng là những công ty cung cấp dịch vụ cho các nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào, nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và khách hàng. Họ có thể là nhà cung cấp dịch vụ logistics, nhà cung cấp dịch vụ tài chính, nhà cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin… Họ phát triển chuyên môn và các kỹ năng đặc biệt nhằm tập trung vào một hoạt động đặc thù mà chuỗi cung ứng cần. Nhờ đó mà họ có thể cung cấp các dịch vụ hiệu quả hơn ở một mức giá tốt hơn các nhà sản xuất, phân phối, bán lẻ hay khách hàng nếu tự thực hiện.
Nhà cung cấp là các công ty bán sản phẩm, dịch vụ của mình - nguyên liệu đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất, kinh doanh như vật liệu thô, linh kiện, bán thành phẩm cho nhà sản xuất. Nhà sản xuất hay nhà chế biến là các công ty làm ra sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ để cung cấp cho khách hàng. Nhà sản xuất sử dụng nguyên vật liệu, dịch vụ đầu vào và áp dụng các quy trình sản xuất nhất định để tạo ra sản phẩm cuối cùng. Mặc dù sản phẩm này để đến được tay người tiêu dùng hay khách hàng cuối cùng cần phải trải qua rất nhiều giai đoạn, tuy nhiên việc nhà sản xuất có thể quản lí tất cả các 14 thành phần của chuỗi cung ứng hiệu quả và tối ưu hay không là yếu tố then chốt.
Từ đó họ có thể tăng được hiệu quả sản xuất, nâng cao chất lượng sản xuất và giảm chi phí hoạt động để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho mình. Nhà phân phối là các công ty mua lượng lớn sản phẩm từ các nhà sản xuất và chịu trách nhiệm đưa các sản phẩm từ nhà sản xuất đến khách hàng. Các nhà phân phối còn được gọi là các nhà bán sỉ. Thông thường họ sẽ bán cho các công ty khác một lượng sản phẩm lớn hơn rất nhiều so với lượng mua của người tiêu dùng thông thường.
Họ điều phối các dao động về nhu cầu sản phẩm cho các nhà sản xuất bằng cách tích trữ hàng tồn kho và thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh để tìm kiếm và phục vụ khách hàng. Nhà bán lẻ là người tiếp nhận lượng tồn kho từ phía nhà phân phối để đưa trực tiếp sản phẩm tới khách hàng với số lượng nhỏ, thường là theo nhu cầu và đơn đặt hàng của khách hàng. Nhà bán lẻ cũng thực hiện các nghiệp vụ như nắm bắt nhu cầu thị hiếu của khách hàng, từ đó có những quyết định đặt hàng từ nhà phân phối cho phù hợp. Các nhà bán lẻ sử dụng các chiến lược về giá cả, chủng loại hàng hóa, dịch vụ… nhằm thu hút khách hàng.
Khách hàng luôn là đối tượng phục vụ hàng đầu của bất kì một doanh nghiệp nào. Khách hàng có thể là công ty hoặc cá nhân mua và sử dụng sản phẩm. Họ có thể mua sản phẩm để kết hợp nó với sản phẩm khách và sau đó sẽ bán lại cho khách hàng khác.