phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được kết cấu gồm 4 chương: Chƣơng 1: Lý luận chung về thuế giá trị gia tăng và công tác quản lý thuế giá trị gia tăng. Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp tại Chi cục thuế TP Việt Trì. Chƣơng 4: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế GTGT đối doanh nghiệp tại Chi cục thuế TP Việt Trì.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Khái quát chung về thuế giá trị gia tăng 1. Lịch sử ra đời và phát triển của thuế GTGT Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu. Thuế GTGT ra đời là sự thay thế hợp lý của thuế doanh thu, tuy là một sắc thuế khá trẻ, nhưng cho đến nay đã có trên 130 quốc gia áp dụng.
Nước đầu tiên trên thế giới áp dụng thuế GTGT là Pháp, vào năm 1954. Thuế GTGT tự bản thân nó là một sắc thuế tiên tiến được áp dụng rộng rãi và thành công ở hơn 100 quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, thuế GTGT được ban hành thành Luật và được Quốc hội Khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 11 (ngày 10/5/1997) và có hiệu lực thi hành kể từ 01/01/1999, thay thế cho Luật thuế doanh thu. Trong quá trình thực thi, Luật thuế GTGT đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần nhằm tháo gỡ kịp thời những vướng mắc phát sinh, phù hợp với thực tiễn nước ta trong từng thời kỳ.
Khái niệm về thuế GTGT Hiện nay khái niệm về thuế GTGT được hiểu dưới nhiều giác độ, khía cạnh và nhiều quan điểm khác nhau. Tại Việt Nam, Điều 2, Luật Thuế GTGT năm 2008 thuế GTGT được hiểu: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Đa số các nước trên thế giới hiện nay áp dụng Luật thuế GTGT đều đưa ra khái niệm với nội hàm tương tự như vậy. Tác dụng của thuế GTGT Thuế GTGT có diện điều chỉnh rộng (đối với mọi hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng tại Việt nam) và khắc phục được những nhược điểm của thuế doanh thu trong cơ chế thị trường (không thu thuế trùng lắp vào các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh), nên thuế GTGT có tác dụng: Đảm bảo nguồn thu lớn, ổn định và kịp thời cho NSNN, góp phần tăng cường tài chính quốc gia, đảm bảo nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói, giảm nghèo và củng cố an ninh, quốc phòng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Đối với đầu tư, xuất khẩu và tăng trưởng: Với cơ chế đặc thù về khấu trừ, hoàn lại thuế GTGT đầu vào đã trả khi mua các sản phẩm dùng cho SXKD hàng hoá, dịch vụ chịu thuế; hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu được áp thuế 0% (không phải nộp thuế khi xuất khẩu mà còn được hoàn lại toàn bộ số thuế đầu vào đã trả); tài sản đầu tư được hoàn lại thuế GTGT theo định kỳ khi dự án chưa có sản phẩm đầu ra (hoặc được khấu trừ ngay đối với trường hợp vừa có dự án đầu tư, vừa có hoạt động kinh doanh phát sinh thuế đầu ra. Vì vậy, thuế GTGT có tác dụng tích cực trong việc khuyến khích xuất khẩu, khuyến khích đầu tư và từ đó, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Khuyến khích và thúc đẩy doanh nghiệp tăng cường hạch toán kinh doanh, thực hiện tốt chế độ kế toán, lưu giữ hoá đơn, chứng từ; góp phần vào việc chống trốn, lậu thuế; nâng cao tinh thần tự giác của các đối tượng kinh doanh. Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế, làm cho hệ thống chính sách thuế từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập kinh tế của nước ta với khu vực và thế giới.
Sự cần thiết phải áp dụng thuế giá trị gia tăng ở nước ta Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình trình chuyển sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Hoạt động và vận hành của thị trường chưa thật linh hoạt, nhiều doanh nghiệp có trình độ công nghệ, kỹ thuật cũng như trình độ quản lý thấp, năng suất lao động thấp, khả năng cạnh tranh kém, chưa thích nghi và điều chỉnh nhanh nhạy để phù hợp với chính sách kinh tế mới. Vi vậy việc áp dụng thuế GTGT trong giai đoạn này là hết sức cần thiết. Thuế GTGT có những ưu điểm nổi bật có thể khắc phục được phần nào khó khăn khi thực hiện luật thuế cũ: Thuế GTGT có thể khắc phục được nhược điểm của thuế doanh thu là không thu trùng lắp thuế nên có tác động tích cực đối với sản xuất dịch vụ.
Đồng thời việc thực hiện thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp còn đòi hỏi các doanh nghiệp của tất cả các thành phần kinh tế phải tăng cường quản lý như: ghi chép ban đầu, mở sổ sach kế toán và mua bán hàng hóa có hóa đơn chứng từ, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm để đủ sức cạnh tranh trong tình hình mới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 Thuế GTGT sẽ khuyến khích đầu tư trong nước, mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, đổi mới công nghệ hiện đại. Thuế GTGT không đánh vào hoạt động đầu tư tài sản cố định, toàn bộ số thuế GTGT phải trả lại khi mua sắm tài sản cố định sẽ được Nhà nước cho khấu trừ hoặc hoàn lại cho doanh nghiệp. Đồng thời trong quá trình thực hiện, Chính phủ còn có những biện pháp khuyến khích thêm như đối với những công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành bàn giao.
Thuế GTGT sẽ góp phần khuyến khich xuất khẩu, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh hàng hóa xuất khẩu, giải quyết nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Luật thuế GTGT qui định hàng hóa xuất khẩu được hưởng thuế xuất 0% và được hoàn thuế GTGT đầu vào nên đã khuyến khích xuất khẩu và tạo điều kiện để hàng hóa Việt Nam có thể cạnh tranh về giá cả so với hàng hóa tương tự của các nước trên thị trường quốc tế. Việc thực hiện thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu sẽ góp phần bảo hộ hàng hóa sản xuất trong nước. Kết hợp với cơ chế điều hành xuất nhập khẩu hàng hóa năm 1999, thuế GTGT sẽ góp phần hạn chế tiêu dùng, nhất là hàng tiêu dùng cao cấp từ nước ngoài, thực hiện tiết kiệm cho sản xuất.
Đối với vật tư, nguyên vật liệu nhập khẩu vẫn thực hiện thu thuế GTGT khi hàng nhập về, nhưng đã có xem xét điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu để ổn định sản xuất trong nước. Thuế GTGT còn góp phần cơ cấu lại nền kinh tế từ sản xuất thay thế nhập khẩu chuyển mạnh sang sản xuất hướng xuất khẩu. Thuế GTGT sẽ khuyến khích việc sản xuất, xuất khẩu những mặt hàng nước ta có thế mạnh như nông sản,lâm sản, thuỷ sản. bằng các qui định cụ thể như không thu thuế GTGT đối với hàng hóa do người sản xuất ban ra, cho khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với các cơ sở chế biến, thương mại mua các mặt hang, hoàn thuế đầu vào cho các cơ sở xuất khẩu các mặt hàng này nếu có hóa đơn GTGT đầu vào.
Thuế GTGT không làm tăng giá cả hàng hóa. Bản chất thuế GTGT không làm tăng giá vì nó thay thế thuế doanh thu đã được kết cấu vào trong giá. Điều này cũng đòi hỏi các Bộ, Ngành địa phương phải có biện pháp quản lý hướng dẫn kịp thời và đúng đắn việc thực hiện thuế GTGT. Tránh tình trạng một số doanh nghiệp hay hộ kinh doanh chưa hiểu rõ, có thể sẽ cộng thêm vào giá cũ để bán làm giá cả hàng hóa tăng thêm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Nội dung cơ bản của Luật thuế GTGT 1. Phạm vi áp dụng Đối tƣợng chịu thuế GTGT: Theo quy định tại Điều 3 Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 của Quốc hội thì đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) là hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này. Đối tượng không chịu thuế: Theo quy định tại điều 5 Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 của Quốc hội, các mặt hàng không thuộc diện chịu thuế GTGT gồm 25 mặt hàng.
Đối tƣợng nộp thuế GTGT: Theo quy định tại Điều 2 Luật thuế GTGT thì Người nộp thuế giá trị gia tăng là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là người nhập khẩu) bao gồm: - Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước (nay là Luật Doanh nghiệp), Luật Hợp tác xã và pháp luật kinh doanh chuyên ngành khác; - Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác; - Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (nay là Luật đầu tư); các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam; - Cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu; - Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ (kể cả trường hợp mua dịch vụ gắn với hàng hóa) của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam thì tổ chức, cá nhân mua dịch vụ là người nộp thuế. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 - Chi nhánh của doanh nghiệp chế xuất được thành lập để hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế.