lời mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc trình bày bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 4 Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty CP xây dựng & thƣơng mại quốc tế An Phát Chƣơng 3: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty CP xây dựng & thƣơng mại quốc tế An Phát 5 CHƢƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm sản xuất kinh doanh là gì? Tất cả các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt động trong nền kinh tế thị trƣờng dù là hình thức sở hữu nào ( Doanh nghiệp Nhà Nƣớc, Doanh nghiệp tƣ nhân, hợp tác xã, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn,. ) thì đều có các mục tiêu hoạt động sản xuất khác nhau. Ngay trong mỗi giai đoạn, các doanh nghiệp cũng theo đuổi các mục tiêu khác nhau, nhƣng nhìn chung mọi doanh nghiệp trong cơ chế thị trƣờng đều nhằm mục tiêu lâu dài, mục tiêu bao trùm đó là làm sao tối đa hoá lợi nhuận.
Để đạt đƣợc các mục tiêu đó thì các doanh nghiệp phải xây dựng đƣợc cho mình một chiến lƣợc kinh doanh đúng đắn, xây dựng các kế hoạch thực hiện và đặt ra các mục tiêu chi tiết nhƣng phải phù hợp với thực tế, đồng thời phù hợp với tiềm năng của doanh nghiệp và lấy đó làm cơ sở để huy động và sử dụng các nguồn lực sau đó tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Trong điều kiện nền sản xuất kinh doanh chƣa phát triển, thông tin cho quản lý chƣa nhiều, chƣa phức tạp thì hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ là quá trình sản xuất các sản phẩm thiết yếu cho nhu cầu cuả xã hội sau đó là sự lƣu thông trao đổi kinh doanh các mặt hàng do các doanh nghiệp sản xuất ra. Khi nền kinh tế càng phát triển, những đòi hỏi về quản lý nền kinh tế quốc dân không ngừng tăng lên. Quá trình đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan của sự phát triển.
Mác đã ghi rõ: “ Nếu một hình thái vận động là do một hình thái khác vận động khác phát triển lên thì những phản ánh của nó, tức là những ngành khoa học khác nhau cũng phải từ một ngành này phát triển ra thành một ngành khác một cách tất yếu”. Sự phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất đã làm tăng thêm lực lƣợng sản xuất xã hội, nảy sinh nền sản xuất hàng hóa. Quá trình sản xuất bao 6 gồm: sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Chuyên môn hoá đã tạo sự cần thiết phải trao đổi sản phẩm giữa ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng.
Sự trao đổi này bắt đầu với tính chất ngẫu nhiên, hiện vật, dần dần phát triển mở rộng cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá, khi tiền tệ ra đời làm cho quá trình trao đổi sản phẩm mang hình thái mới là lƣu thông hàng hoá với các hoạt động mua và bán và đây là những hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Nhƣ chúng ta đã biết, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều nằm trong thế tác động liên hoàn với nhau.Bởi vậy, chỉ có tiến hành phân tích các hoạt động kinh doanhmột cách toàn diện mới giúp cho các nhà doanh nghiệp đánh giá một cách đầy đủ và sâu sắc mọi hoạt động kinh tế trong trạng thái hoạt động thực của chúng. Trên cơ sử đó nêu lên một cách tổng hợp về trình độ hoàn thành mục tiêu – biểu hiện bằng hệ thống chỉ tiêu kinh tế –kỹ thuật-tài chính của doanh nghiệp.Đồng thời, phân tích sâu sắc các nguyên nhân hoàn thành hay không hoàn thành các chỉ tiêu đó trong sự tác đoọng lẫn nhau giữa chúng. Từ đó có thể đánh giá đầy đủ mặt mạnh, mặt yếu trong công tác quản lý doanh nghiệp.
Mặt khác , qua công tác phân tích kinh doanh, giúp cho các nhà doanh nghiệp tìm ra các biện pháp sát thực để tăng cƣờng các hạot động kinh tế , và quản lý doanh nghiệp, nhằm huy động mọi khả năng tiềm tàng về tiền vốn và lao động,đất đai vào quá trình sản xuất kinh doanh , nâng cao kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích quá trình sản xuất kinh doanh còn là căn cứ quan trọng phục vụ cho dự đoán, dự báo xu thế phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhƣ vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh đƣợc hiểu nhƣ là quá trình tiến hành các công đoạn từ việc khai thác sử dụng các nguồn lực sẵn có trong nền kinh tế để sản xuất ra các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ nhằm cung cấp cho nhu cầu thị trƣờng và thu đƣợc lợi nhuận.2 Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh: 7 Hiện nay, còn nhiều quan điểm chƣa đồng nhất về khái niệm “hiệu quả kinh doanh”, mỗi nhà nghiên cứu dựa vào góc độ nhìn nhận và cách tiếp cận khác nhau lại đƣa ra một quan điểm khác nhau về khái niệm này. Dựa vào cách tiếp cận của mình, Adam Smith (1776) nhận định: “Hiệu quả - Kết quả đạt đƣợc trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”.
Theo quan điểm này, việc xác định hiệu quả kinh doanh chỉ đơn thuần dựa vào khả năng tiêu thụ sản phẩm. Quan điểm của Adam Smith đã bỏ qua yếu tố chi phí trong việc tính toán hiệu quả kinh doanh do đó chƣa phân định đƣợc rõ ràng giữa hiệu quả kinh doanh và kết quả kinh doanh. Trong cuốn Kinh tế học (1948), Paul A. Samuelson đƣa ra quan điểm: “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của con ngƣời”.
Với cách tiếp cận này, tác giả đã nêu lên đƣợc đặc tính của khái niệm hiệu quả đó là sử dụng một cách tối ƣu các nguồn lực và mục đích của hoạt động. Tuy nhiên, quan điểm này chƣa đƣa ra đƣợc cách xác định hiệu quả kinh doanh. Tại Việt Nam, tác giả Phan Quang Niệm (2008) đã đƣa ra nhận định:“Các doanh nghiệp quan tâm nhất chính là vấn đề hiệu quả sản xuất. SXKD có hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với phạm trù lợi nhuận, là hiệu số giữa kết quả thu về với chi phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó. Hiệu quả SXKD cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất và quản lý của mỗi doanh nghiệp”. Tác giả Nguyễn Văn Phúc (2016) cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là phạm trù phản ánh mối quan hệ giữa kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp thu đƣợc với chi phí hoặc nguồn lực bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó, đƣợc thể hiện thông qua các chỉ tiêu về khả năng sinh lời của doanh nghiệp”. 8 Cần phải phân biệt một cách rõ ràng giữa hai khái niệm: hiệu quả kinh doanh và kết quả kinh doanh.
Kết quả kinh doanh là những gì mà doanh nghiệp đạt đƣợc trong một khoảng thời gian nhất định đƣợc lƣợng hóa bẳng một số chỉ tiêu nhƣ doanh thu, sản lƣợng tiêu thụ, thị phần,. Hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, đƣợc tính bằng tỷ số giữa kết quả đạt đƣợc và hao phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó. Tóm lại, chúng ta có thể hiểu: "Hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa kết quả đầu ra với các yếu tố, nguồn lực đầu vào để tạo ra đầu ra đó". Trong đó: - Các nguồn lực đầu vào bao gồm: lao động, vốn, tài sản, chi phí; - Các kết quả đầu ra bao gồm: giá trị tổng sản lƣợng, doanh thu, lợi nhuận.
Hiệu quả đƣợc nhắc tới trong khái niệm trên bao gồm hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tƣơng đối. - Hiệu quả tuyệt đối đƣợc tính theo công thức: Hiệu quả SXKD = Kết quả thu đƣợc – Nguồn lực đầu vào Hiệu quả tuyệt đối cho ta thấy đƣợc việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hay không, cụ thể : + Hiệu quả > 0: cho thấy doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, doanh thu đạt đƣợc lớn hơn chi phí bỏ ra, doanh nghiệp kinh doanh có lãi. + Hệ số < 0: cho thấy doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả, thậm chí còn bị thua lỗ do doanh thu mang lại không đủ bù đắp cho các chi phí bỏ ra. - Hiệu quả tƣơng đối đƣợc tính theo công thức: 9 Hiệu quả kinh tế = Nguồn lực bỏ ra/ Kết quả đạt đƣợc Hiệu quả tƣơng đối cho ta thấy đƣợc mối tƣơng quan giữa nguồn lực bỏ ra và kết quả đạt đƣợc, cụ thể : + Hiệu quả < 1: cho thấy doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, chi phí bỏ ra thấp hơn doanh thu mang lại, doanh nghiệp kinh doanh có lãi.
+ Hệ số > 1: cho thấy doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả, thậm chí còn bị thua lỗ do doanh thu mang lại nhỏ hơn hoặc bằng các chi phí bỏ ra. Bản chất của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh đã cho thấy bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lƣợng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt đƣợc các mục tiêu của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để hiểu rõ và ứng dụng đƣợc phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh vào việc thành lập các chỉ tiêu, các công thức cụ thể nhằm đánh giá tính hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì chúng ta cần phải: - Thứ nhất: Phải hiểu rằng phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh thực chất là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt đƣợc và chi phí bỏ ra để sử dụng các yếu tố đầu vào và có tính đến các mục tiêu của doanh nghiệp. Mối quan hệ so sánh ở đây có thể là so sánh tuyệt đối và cũng có thể là so sánh tƣơng đối nhƣ đã trình bày tại Mục 1.
Do đó, để tính đƣợc hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ta phải tính kết quả đạt đƣợc và chi phí bỏ ra.