phần mở đầu để trình bày một số nội dung tổng quan chung làm định hướng cho các bước NC tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH, THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG 1. Lý thuyết về hiệu quả kinh doanh, phân tích hiệu quả kinh doanh 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh Hiệu quả thường được hiểu đó là một phép so sánh, cụ thể hiểu một cách giản đơn đó là một phép trừ.
Đó chính là phép trừ (phép hiệu) giữa những gì thu được đối với những gì phải bỏ ra trong một thời kỳ nào đó. Trong phép trừ này, có những giá trị có tính chất hiện hữu và thanh khoản ngay trong lúc diễn ra quá trình đánh giá nhưng cũng có những khoản không thể thanh khoản ngay và được đánh giá một cách gián tiếp để chuyển sang kỳ đánh giá sau. Hiểu theo một cách rộng hơn và sâu hơn, hiệu quả còn được đánh giá trên các khía cạnh khác nữa tuy nhiên một trong những khía cạnh đó chính là việc DN có sử dụng nguồn lực hiện có để tạo ra một hiệu quả kinh doanh (KD) tối ưu nhất hay không. Tác giả Adam và Nordhaus đưa ra quan niệm khác nhau về khái niệm hiệu quả nhưng cùng là sự nhìn nhận để bổ sung lẫn nhau khi Adam cho rằng hiệu quả KD là thành quả mà DN nỗ lực đạt được trong quá trình KD dưới dạng các giá trị thu được từ việc bán hàng hóa và cung cấp các dịch vụ.
Trong khi đó Nordhaus bổ sung thêm rằng hiệu quả đồng nghĩa với việc sử dụng tốt nhất trong một nguồn lực có hạn để tạo ra một giá trị KD tối ưu nhất có thể đồng thời phải bảo đảm thỏa mãn nhu cầu và làm hài lòng khách hàng và có những đóng góp với xã hội. Tác giả Gujaratu lại quan niệm hiệu quả chủ yếu được xem xét và đánh giá trên hai đối tượng, đó chính là kết quả đạt được cao nhất đối với một chi phí thấp nhất. Quan điểm về hiệu quả nói chung và hiệu quả KD cũng được nhiều học giả trong nước thể hiện có sự tương đồng so với các quan điểm của các học giả nước ngoài. Cụ thể của sự tương đồng đó là cân nhắc giữa kết quả trả về sau cùng khi sử dụng một khoản chi phí nhất định nào đó.
Hiệu quả sẽ được đánh giá là cao hơn khi kết quả trả về cao hơn nhưng sử dụng một nguồn lực và chi phí ngang bằng hoặc thấp hơn. Theo đó, tác giả Nguyễn Văn Tạo (2004) còn bổ sung quan niệm rằng trước khi tính đến hiệu quả, phải tính đến việc hoàn thành mục tiêu đề ra trước đó. Theo đó, hiệu quả sẽ không được tính đến nếu mục tiêu đề ra không được thực hiện. Điều này trên một phương diện nào 9 đó là đúng nhưng sẽ không hợp lý hoàn toàn vì có thể mục tiêu trước đó cần được thay đổi để phù hợp với bối cảnh mới.
Mặc dù vậy, tác giả này vẫn đang chú trọng đến quá trình hoàn thành mục tiêu như là một điều kiện tiên quyết trước khi tính đến các điều kiện khác. Trong khi đó, tác giả Bùi Xuân Phong (2013) lại quan niệm rằng hiệu quả là phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực. Tác giả này xác định hiệu quả như một phạm trù kinh tế trong đó đặt mục tiêu lên hàng đầu và xem mục tiêu như là thước đo năng lực của quá trình điều hành quản lý. Quan niệm của Xuân Phong có điểm tương đồng với Nguyễn Văn Tạo, nhưng Xuân Phong có góc nhìn nghiên về phía tổng quan và có tính triết học nhiều hơn.
Như vậy, tổng hợp các quan điểm của các tác giả trong và ngoài nước thể hiện rằng khi quan niệm về hiệu quả, sẽ có sự xuất hiện của các đối tượng và hiện tượng đó là nguồn lực, cụ thể hơn là nguồn lực có hạn hoặc nhất định không đổi hoặc thay đổi không đáng kể. Nhưng kéo theo đó, chính là tài năng, năng lực của nhà điều hành làm thế nào đó để có thể đem lại một nguồn lợi lớn nhất có thể cho DN. Lợi nhuận càng lớn sẽ đem lại đời sống con người trong và ngoài DN được tốt hơn cũng như sẽ có cơ sở và nguồn lực để tái đầu tư và giúp cho DN đứng vững trên thương trường và phát triển ổn định. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Nâng cao hiệu quả nói chung và nâng cao hiệu quả KD luôn là vấn đề mà các nhà quản trị quan tâm vì tính chất quan trọng của nó.
Nguồn lực luôn là hữu hạn và có khả năng cạn kiệt, đứt gãy bất cứ lúc nào dưới sự tác động của những biến cố khó lường trong đời sống kinh tế xã hội trong nước và thế giới. Việc không ngừng nâng cao hiệu quả KD sẽ giúp cho DN có một nguồn lực dự phòng rủi ro khi gặp phải những điều kiện khắc nghiệt xảy ra đột ngột hoặc có dự tính trước đó. Hiệu quả KD được nâng cao sẽ làm cho DN trở nên giàu có hơn và vì thế sẽ nâng cao được năng lực cạnh tranh. DN đứng trước những áp lực từ phía người lao động, đối với áp lực được tạo ra từ chính nội tại của DN và áp lực của nền kinh tế.
Bên cạnh áp lực từ các phía như vậy thì chính các phía này cũng tạo cho DN những điều kiện thuận lợi để DN phát triển. Trong đó, bản chất của các đối tượng này có thể được nhìn nhận như sau: Thứ nhất, đối với nền kinh tế trong nước và quốc tế nơi DN có mối quan hệ KD, mỗi DN như là một điểm nút để cấu thành mạng lưới phát triển chung làm nên sự thịnh 10 vượng của nền kinh tế của cả một quốc gia, của khu vực kinh tế tầm châu lục và toàn thế giới. Tùy vào quy mô của DN mà có sự tác động mạnh hay yếu khác nhau đến nền kinh tế quốc gia. Việc DN đứng vững sẽ kéo theo nền kinh tế quốc gia đứng vững và ngược lại, các DN sụp đổ là nguyên nhân suy thoái và sụp đổ của cả nền kinh tế quốc gia và khu vực.
Thứ hai, đối với chính bản thân trong nội tại của DN, việc tạo ra hiệu quả và nâng cao hiệu quả là điều kiện tiên quyết sống còn của chính DN đó. Bài toán tối ưu hiệu quả sẽ đem lại một nguồn lợi ích vô cùng to lớn để DN nhẹ gánh nặng chi phí. Những khoản lợi nhuận sẽ là nguồn bù chi phí và DN sẽ có cơ hội tái đầu tư, có đủ nguồn lực để đổi mới quy trình công nghệ và bắt kịp với xu thế phát triển không ngừng của xã hội. Việc bản thân DN đứng vững được trên thị trường cũng là minh chứng của việc vượt qua được các đối thủ cạnh tranh khi mà hiện tại mỗi ngày trong nước có không dưới 600 DN trong nước phá sản hoặc chờ giải thể.
Thứ ba, sự tồn tại và phát triển của DN đồng hành với sự sống còn và phát triển của đội ngũ nhân viên và những người thân, người phụ thuộc của họ. Việc nỗ lực tạo được hiệu quả KD cao nhất sẽ có nguồn lực để chăm lo đời sống ổn định của nhân viên và kéo theo đời sống gia đình của họ ổn định, kéo theo an sinh xã hội trong khu vực sẽ ổn định. Đây là điều kiện tốt nhất để nhân viên an tâm cống hiến và công tác cũng như không ngừng học tập nâng cao trình độ và tiếp tục quay trở lại DN để làm việc. Từ vòng trôn ốc phát triển này sẽ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự ổn định và phát triển kinh tế đất nước.
Phân tích hiệu quả kinh doanh 1. Khái niệm phân tích hiệu quả kinh doanh Theo Phạm Văn Dược và cộng sự (2015) thì người ta sẽ áp dụng các phương pháp phân tích phù hợp để hiểu được một cách rõ ràng nhất về mối quan hệ của các đối tượng kinh tế. Quá trình phân tích ấy sẽ làm rõ được bản chất của tất cả các hoạt động KD trong một DN, cũng từ đó sẽ phát hiện được các nguồn tiềm năng nên được khai thác tốt nhất để định hướng các giải pháp khai thác chúng, đồng thời điều chỉnh các hoạt động chưa phù hợp để đưa DN phát triển theo một định hướng phù hợp và hiệu quả hơn. Theo nhóm tác giả này, để có được các cơ sở và số liệu phục vụ quá trình phân tích, nhà phân tích phải căn cứ vào các báo cáo liên quan đến các số liệu tài chính và các số liệu 11 phi tài chính khác trong quá khứ và hiện tại cùng với các ý kiến của chuyên gia.
Như vậy, trên một phương diện nào đó, phân tích hiệu quả KD có bao hàm việc đánh giá hiệu quả hoạt động trong suốt quá trình KD của DN đó. Ý nghĩa phân tích hiệu quả kinh doanh Kết quả của việc phân tích hiệu quả quá trình sản xuất, cung ứng, KD đem lại ý nghĩa to lớn đối với DN. Các nhà quản trị DN thường nhận ra được điểm mạnh, phát hiện điểm yếu trong nội tại DN nhờ vào quá trình phân tích hoạt động KD hàng quý, hàng năm, thông thường là vào thời điểm cuối tháng cuối cùng của năm tài chính. Nhà phân tích cũng nhờ vào hoạt động này để có thể nắm được các cơ hội và các thách thức từ môi trường bên ngoài để có giải pháp ứng phó kịp thời với những tác động ngoại vi ấy.
Từ việc phân tích và lên được một ma trận SWOT: “Strengths (Thế mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats (Thách thức)”, như vậy sẽ làm nổi bật vai trò của việc phân tích nói chung và phân tích hoạt động KD nói riêng. Từ việc khai thác ma trận SWOT được lập ra hàng năm và điều chỉnh rà soát định kỳ, DN sẽ có đủ căn cứ khoa học và đáng tin cậy để lập nên các kế hoạch ngắn, trung và dài hạn để triển khai thực hiện các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu hướng đến mục đích chung và phù hợp với tầm nhìn của DN, thực hiện được sứ mệnh do DN đề ra Việc phân tích hoạt động KD một cách nghiêm túc, có trách nhiệm và đầy đủ sẽ là cơ sở đáng tin cậy để cung cấp các số liệu tài chính đến với các bên liên quan để thu hút vốn đầu tư của cổ đông và cung cấp các số liệu trung thực cho các cơ quan chức năng, các cơ quan giám sát các hoạt động KD của DN và giúp cho DN thực hiện tốt nghĩa vụ đóng thuế với nhà nước, giúp cho DN thực hiện đúng các quy định của pháp luật.