CHƯƠNG I TONG QUAN VE NGHIỆP VỤ BẢO HIẾM XÂY DỰNG LAP ĐẶT 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng lắp đặt.1 Đặc điểm của ngành xây dựng- lắp đặt và vai trò via ngành xây dựng trong nên kinh tế quốc dân.1 Đặc điểm của ngành xây dựng - lắp đặt - Tình hình và điều kiện sản xuất trong xây dựng thiếu tính ổn định, luôn biến đổi theo địa điểm xây dựng. Cu thé là trong xây dựng con ngudi và công cụ lao động luôn phải di chuyển từ công trình này đến công trình khác, còn sản phâm xây dựng (tức là các công trình xây dựng) thì hình thành và đứng yên tại chỗ, một đặc điểm hiếm thấy ở các ngành khác. Các phương án xây dựng về mặt kỹ thuật và tổ chức sản xuất cũng luôn luôn phải thay đổi theo từng địa điểm và giai đoạn xây dựng. Đặc điểm này làm khó khăn cho việc tổ chức sản xuất, làm nảy sinh nhiều chi phí cho khâu di chuyén,khé cai thién diéu kién cho người lao động.
Dac diém này cũng đòi hỏi các tổ chức xây dựng phải chú ý tăng cường tính linh hoạt, cơ động và gọn nhẹ. Về mặt trang bị tài sản cố định sản xuất, lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất linh hoạt, tăng cường điều hành tác nghiệp, phấn đấu giảm chỉ phí có liên quan đến vận chuyển, lựa chọn vùng hoạt động thích hợp, lợi dụng tối đa lực lượng xây dựng tại chỗ và liên kết tại chỗ để tranh thầu xây dựng, chú ý đến nhân tố chỉ phí vận chuyền khi lập giá tranh thầu. Đặc điểm này cũng đòi hỏi phải phát triển rộng khắp trên lãnh thổ các loại hình dịch vụ sản xuất phục vụ xây dựng như các dịch vụ cho thuê máy xây dựng, cung ứng và vận tải, sản xuât vật liệu xây dựng. - Chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng công trình) thường dài.
Đặc điểm này làm cho vốn dau tư xây dựng công trình và vốn sản xuất của tổchức xây dựng thường bị ứ đọng lâu tại công trình đang được xây dựng,các tổ chức xây dựng dé gặp phải các rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian, công trình xây dựn xong dễ bị hao mòn vô hình do tiến bộ của khoa học và công nghệ. Đặc điểm này đòi hỏi các tổ chức xây dựng phải chú ý đến nhân tố thời gian khi lựa chọn phương án, phải lựa chọn phương án có thờigian xây dựng hợp lý, phải có chế độ thanh toán và kiểm tra tra chất lượng trung gian thích hợp dự trữ hợp lý. SVTH: Mã Van Dai. Ma SV: CQ520723 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp + GVHD: Th.S Nguyễn Thành Vinh - Sản xuất xây dựng phải tiến hành theo đơn đặt hàng cho từng trường hợp cụ thể thông qua hình thức ký kết hợp đồng sau khi thắng thau,vi sản phẩm xây dựng rất đa dạng, có tính cá biệt cao và chỉ phí lớn.
Trong phần lớn các ngành sản xuất khác người ta có thể sản xuất sẵn hàng loạt sản phẩm để bán. Nhưng với các công trình xây dựng thì không thé được trừ một vài trường hợp rất hiếm khi chủ đầu tư làm sẵn một số nhà ở để bán. Nhưng ngay cả ở đây mỗi nhà cũng đều có những đặc điểm riêng do điều kiện địa chất và địa hình đem lại. Đặc điểm này dẫn đến yêu cầu là phải xác định giá cả của sản phẩm xây dựng trước khi sản phẩm được làm ra và hình thức giao nhận thầu hoặc đấu thầu xây dựng cho từng công trình cụ thể trở nên phổ biến trong sản xuất xây dựng.
Đặc điểm này cũng đòi hỏi các tổ chức xây dựng muốn thắng thầu phải tích luỹ nhiều kinh nghiệm cho nhiều trường hợp xây dựng cụ thể và phải tính toán cần thận khi tranh thầu. - Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp, các đơn vị tham gia xây dựng công trình phải cùng nhau đến công trường thi công với diện tích có hạn để thực hiện phần việc của mình theo một trình tự nhất định về thoigian và không gian. Đặc điểm này đòi hỏi các tổ chức xây dựng phải có trình độ phối hợp tổ chức cao trong sản xuất, coi trọng công tác chuẩn bịvà thiết kế tổ chức thi công, phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức xây dựng tổng thầu hay thầu chính và các tổ chức thầu phụ. - Sản xuất xây dựng phải tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hưởng của thời tiết, điều kiện làm việc nặng nhọc.
Ảnh hưởng của thời tiết, thường làm gián đoạn quá trình thi công, năng lực sản xuất của tổ chức xây dung không được sử dụng điều hoà theo bốn quý. gây khó khăn cho việc lựa chọn công trình, đòi hỏi phải dự trữ nhiều vật liệu. Đặc điểm này đòi hỏi các tổ chức xây dựng phải lập tiến độ thi công hợp ly để tránh thời tiết xấu, phan đấu tìm cách hoạt động tròn năm, áp dụng kết cấu lắp ghép làm sản phẩm sẵn trong xưởng dé giảm bớt thời gian thi công trong công trường, áp dụng cơ giới hoá hợp lý. chú ý độ bền chắc của máy móc, đặc biệt quan tâm đến việc cải thiện điều kiện lao động của công nhân, chú ý đến nhân tổ rủi ro, quan tâm đến phát triển xây dựng trong điều kiện nhiệt đới.
- Sản xuất xây dựng chịu ảnh hưởng của lợi nhuận chênh lệch do điều kiện địa điểm xây dựng đem lại. Cùng một loại công trình nhưng nếu nó được đặt tại nơi có sẵn nguồn nguyên vật liệu xây dựng, sẵn nguồn máy xây dựng cho thuê và sẵn nhân công thì người nhận thầu xây dựng trường hợp này có nhiều cơ hội hạ thấp chỉ phí sản xuất và thu được lợi nhuận cao hơn. Mã SV: CQ520723 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 5 GVHD: Th.S Nguyễn Thành Vinh 1.2 Vai trò của ngành xây dựng trong nên kinh tế quốc dân Xây dựng cơ bản nói chung, ngành xây dựng nói riêng giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là một trong những lĩnh vực sản xuất vật chất lớn của nền kinh tế quốc dân, cùng các ngành sản xuất khác, trước hết là ngành công nghiệp chế tạo và ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, nhiệm vụ của ngành xây dựng là trực tiếp thực hiện và hoàn thành khâu cuối cùng của quá trình hình thành tài sản cố định cho toàn bộ các lĩnh vực sản xuất của nền kinh tế quốc dân và các lĩnh vực phi sản xuất khác. Vai trò của ngành xây dựng được thể hiện qua các mặt sau: -Vé mat kỹ thuật các công tính sản xuất được xây dựng lên là để thể hiện cụ thé đường lối phát triển khoa học và kĩ thuật của đất nước là kết tinh hầu hết các thành tựu khoa học, kĩ thuật đã đạt được ở chu kì trước và sẽ góp phần mở ra một chu kì phát triển mới của khoa học kĩ thuật ở giai đoạn tiếp theo.
- Về mặt kinh tế các công trình xây dựng lên là thể hiện đường lối phát triển kinh tế quốc dân ,góp phan tăng cường co sở vật chất kĩ thuật cho đất nước, làm thay đổi cơ cau nền kinh tế quốc dân , đây mạnh tốc độ và nhịp điệu tăng năng xuất lao động xã hội và phát triên của nên kinh tê quôc dân. - Về mặt chính trị xã hội các công trình xây dựng lên sẽ góp phần mở rộng các vùng công nghiệp và các khu đô thị mới. -Về mặt quốc phòng các công trình xây dựng lên góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng của đất nước, mặt khác khi xây dựng chúng đòi hỏi phải tính toán kết hợp với vấn đề quốc phòng. Lịch sử hình thành và phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng - lắp đặt 1.1 Trên thế giới Để đối phó với các rủi ro tiềm tàng có thể xảy ra trong cuộc sống sinh hoạt hăng ngày cũng như trong hoạt động kinh doanh sản xuat , con người đã có rat nhiêu biện pháp khác nhau nhăm kiêm soát cũng như khac phục hậu quả của các rủi ro tiềm tàng.
Nhưng biện pháp vẫn được ưu tiên sử dụng nhiều nhất đó là bảo hiểm. Trong các loại hình bảo hiểm thì bảo hiểm kỹ thuật ra đời sau nhưng từ khi ra đời đến nay loại hình bảo hiểm này đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm kỹ thuật luôn gắn liền với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật. Đơn bảo hiểm kỹ thuật xuất hiện đầu tiên trên thế giới vào SVTH: Mã Văn Dai.
Mã SV: CQ520723 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 6 GVHD: Th.S Nguyễn Thành Vinh năm 1859 tại nước Anh , muộn hơn so với bảo hiểm hàng hải xuất hiện đầu tiên vào năm 1547, bảo hiểm hỏa hoạn xuất hiện đầu tiên vào năm 1667.ké từ khi ra đời bảo hiểm kỹ thuật đã được hầu hết các công ty bảo hiểm phi nhân thọ triển khai. Đặc biệt là trong thế kỹ XX bảo hiểm kỹ thuật đã có những bước tiến dài quan trọng để đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế xã hội. Ngày nay bảo hiểm kỹ thuật đã không ngừng phát triển và đang xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, khoa học trên toàn thế giới. Bảo hiểm xây dựng- lắp đặt là một bộ phận của bảo hiểm kỹ thuật.
Đơn bảo hiểm xây dựng xuất hiện đầu tiên trên thế giới được cấp vào năm 1929 cho công trình xây dựng cầu LABERTH bắc qua sông THAMES ở Luân Đôn. Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay, việc tái thiết đất nước của các nước tham chiến được triển khai mạnh mẽ, quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá của các nước trên thế giới diễn ra nhanh chóng. Do đó nhu cầu bảo hiểm của các công trình, nhà máy, xí nghiệp. ngày càng tăng.2 Ở Việt Nam Trước khi đất nước thống nhất thì ngành bảo hiểm thương mại nhìn chung chưa phát triển.
Kể từ sau khi thống nhất đặc biệt là sau đại hội VI của Dang đã đánh dấu một cuộc cải cách, đổi mới toàn diện của nền kinh tế Việt Nam. Nhà nước ban hành “luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” (tháng 12/1987). Kể từ đây đã có nhiều dự án, công trình xây dựng lớn được thi công dẫn đến nhu cầu bảo hiểm của các chủ đầu tư về việc tham gia bảo hiểm xây dựng, lắp đặt để đảm bảo cho quá trình thi công của công trình. Vào ngày 7/8/1991 ,Bộ tài chính đã ban hành quyết định số 253/TCQD, cho phép Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam gọi tắt là “Bảo Việt” được phép triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng và lắp đặt ở Việt Nam.