CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN DỊCH VỤ VÀ HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ 1.1 Một số khái niệm có liên quan 1.1 Khái niệm Trong luật giá số 11/2012/QH13, được ban hành ngày 20 tháng 6 năm 2012: Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật. Theo tài liệu ký hiệu MTN.GNS/W/120 của Tổ chức Thương mại Thế giới, dịch vụ được chia thành 12 nhóm lớn, trong đó lại bao gồm nhiều phân nhóm khác nhau. 12 nhóm đó là: - Các dịch vụ kinh doanh. Ví dụ: tư vấn pháp lý, xử lý dữ liệu, nghiên cứu phát triển, nhà đất, cho thuê, quảng cáo,.
- Các dịch vụ thông tin liên lạc. Ví dụ: bưu chính, viễn thông, truyền hình,. - Các dịch vụ xây dựng và kỹ thuật liên quan đến xây dựng. Ví dụ: xây dựng, lắp máy,.
- Các dịch vụ phân phối. Ví dụ: bán buôn, bán lẻ,. - Các dịch vụ giáo dục. - Các dịch vụ môi trường.
Ví dụ: vệ sinh, xử lý chất thải,. - Các dịch vụ tài chính. Ví dụ: ngân hàng, bảo hiểm,. - Các dịch vụ liên quan đến y tế và dịch vụ xã hội.
- Các dịch vụ liên quan đến du lịch và lữ hành. - Các dịch vụ giải trí, văn hóa, và thể thao. - Các dịch vụ giao thông vận tải. - Các dịch vụ khác.
Trong bài khóa luận này, vấn đề được phân tích là hoạt động cung cấp dịch vụ của công ty TNHH Không Gian Vui Chơi – Chi nhánh Emart Gò Vấp. Công ty TNHH Không Gian Vui 6 Chơi Cung cấp dịch vụ khu vui chơi dành cho trẻ em nên được xếp vào nhóm các dịch vụ giải trí, văn hóa, thể thao.2 Dịch vụ khu vui chơi trẻ em trong nhà Theo SkyNext – Một thương hiệu lớn chuyên cung cấp các gói giải pháp, tư vấn toàn diện, thiết kế, thi công trọn gói các công trình khu vui chơi trẻ em định nghĩa: “Khu vui chơi trong nhà còn được gọi là trung tâm vui chơi giải trí trong nhà, sân chơi trong nhà dành cho trẻ em là tổ hợp giải trí được thiết kế dành riêng cho trẻ em vui chơi và tận hưởng những trải nghiệm, phát triển toàn diện. Các trò chơi được bố trí khoa học, giúp trẻ bước qua các giai đoạn phát triển từ giao tiếp, vận động cho đến nghệ thuật, trí tuệ.” Ra đời vào năm 1990 tại Mỹ, khu vui chơi trong nhà đã nhanh chóng phủ sóng trên toàn thế giới, trở thành địa điểm giải trí tin cậy của các bậc phụ huynh và các bé. Toàn bộ khu vui chơi đều được bao bọc bởi mút xốp, simili và thảm mềm che lấp các góc cạnh, vị trí cứng có thể gây thương tích cho các bé, đảm bảo sự an toàn tuyệt đối cho bé khi chơi.
Do đó, sân chơi trong nhà được xem là khu vui chơi an toàn hơn so với sân chơi ngoài trời. Đa số các sân chơi giải trí đều chia thành các khu vực sau: - Khu vực vận động thể chất: Khu vận động thể chất là sự liên hoàn các trò chơi vận động dành cho trẻ em trong khu vui chơi. Như nhà liên hoan, leo núi,… - Khu vực giải trí: Khu giải trí cung cấp các trò chơi nhẹ nhàng, phù hợp với sở thích và tính cách của bé như siêu thị, nhà hàng, lắp ghép, hồ hạt gỗ,… - Khu vực hướng nghiệp giáo dục: Khu vực hướng nghiệp giáo dục bao gồm các trò chơi đơn giản, gần gũi với các bé nhất như bác sĩ, kỹ sư, bộ đội cứu hỏa, làm bánh, làm gốm… Thông qua sự trải nghiệm này, giúp trẻ em sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn cuộc sống, về công việc lao động hằng ngày của bố mẹ, ông bà; đặc biệt là thỏa mãn ước mơ làm người lớn của trẻ. - Khu vực nghệ thuật – trí tuệ: Khu vực nghệ thuật – trí tuệ là góc nhỏ trong khu vui chơi thỏa mãn niềm đam mê sáng tạo của trẻ, kích thích sự nhạy bén và trí thông minh của trẻ thông qua các trò chơi.
Các trò chơi thường được nhà đầu tư lựa chọn như cát động học, tô tượng, vẽ tranh,… - Khu vực trò chơi điện tử: Khu vực này mang đến những quà nho nhỏ cho trẻ em như: kẹo, thú nhồi bông,… 7 - Phòng tiệc và tổ chức sự kiện: Là nơi tổ chức tiệc sinh nhật và tiệc dành cho các sự kiện. - Khu vực cà phê nước uống và thức ăn nhanh: Khi trẻ em đốt cháy năng lượng quá mức sẽ cảm thấy đói và khát, khu vực này sẽ bổ sung thêm nguồn năng lượng cho trẻ để tiếp tục vui chơi. Ngoài ra, trong lúc đợi bé thì bố mẹ có thể nghỉ ngơi và thưởng thức cà phê, đồ ăn nhẹ tại khu vực cà phê, thức ăn nhanh.3 Đặc điểm và vai trò của dịch vụ Đặc điểm: - Tính vô hình: Đầu tiên, khi nghĩ về các đặc điểm của dịch vụ, tính vô hình có thể xuất hiện trong đầu bạn. Tính vô hình của dịch vụ có nghĩa là các dịch vụ không thể được nhìn thấy, nếm, cảm nhận, nghe hoặc ngửi trước khi chúng được mua.
Bạn không thể thử chúng. Chẳng hạn, hành khách của hãng hàng không không có gì ngoài một vé và một lời hứa rằng họ sẽ đến vào một thời điểm nhất định tại một điểm đến nhất định. Nhưng không có gì có thể chạm vào. - Không thể tách rời: Đặc điểm của dịch vụ bao gồm không thể tách rời, có nghĩa là dịch vụ được sản xuất và tiêu thụ cùng một lúc.
Điều này cũng đòi hỏi rằng các dịch vụ không thể tách rời khỏi các nhà cung cấp của họ. Trái với các dịch vụ, hàng hóa vật chất được sản xuất, sau đó được lưu trữ, sau đó được bán và thậm chí sau đó được tiêu thụ. Dịch vụ được bán đầu tiên, sau đó được sản xuất và tiêu thụ cùng một lúc. Một sản phẩm có thể, sau khi sản xuất, được lấy đi từ nhà sản xuất.
Tuy nhiên, một dịch vụ được sản xuất tại hoặc gần điểm mua hàng. - Tính không thể cất giữ: Dịch vụ không thể được kiểm kê, cũng không thể lưu trữ để bán hoặc sử dụng sau này. Vì nó có thể có tác động lớn đến kết quả tài chính nên được coi là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của dịch vụ. - Tính đa dạng: Có rất nhiều sự khác biệt về chất lượng dịch vụ được cung cấp bởi các nhà cung cấp khác nhau, hoặc thậm chí bởi cùng một nhà cung cấp tại các thời điểm khác nhau.
Tùy thuộc vào người cung cấp dịch vụ vào khi nào, ở đâu và như thế nào, chất lượng dịch vụ có thể thay đổi rất nhiều. - Sự tham gia của người dùng: Các đặc điểm của dịch vụ bao gồm sự tham gia của người dùng. Một dịch vụ không thể tách rời khỏi nhà cung cấp của nó, nhưng cũng không thể tách rời nó khỏi người dùng. Người dùng tham gia vào mọi sản xuất dịch 8 vụ.
Ngay cả khi người dùng không bắt buộc phải ở một địa điểm nơi dịch vụ được thực hiện, người dùng vẫn tham gia vào mọi hoạt động sản xuất dịch vụ. Vai trò: Dịch vụ luôn giữ một vị trí quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế hiện nay. Nó không chỉ có ý nghĩa đối với doanh nghiệp mà còn cả với nền kinh tế quốc dân: Đối với nền kinh tế quốc dân: - Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa. - Góp phần đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hóa, tiền tệ trong nền kinh tế.
- Dịch vụ thể hiện trình độ văn minh thương mại của một quốc gia - Đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế. - Tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Đối với doanh nghiệp. - Dịch vụ là vũ khí cạnh tranh quan trọng nhất, cao nhất trên thương trường: Cấp độ 1: Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm: Chất lượng sản phẩm dễ bị sao chép, Chất lượng sản phẩm bị chi phối bởi vấn đề tài chính.
Cấp độ 2: Cạnh tranh bằng giá: Khả năng chi phối giá của các công ty lớn trên thị trường, Việc điều chỉnh giá cả sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận. Cấp độ 3: Cạnh tranh bằng dịch vụ: Dịch vụ khó chuẩn hóa,Dịch vụ không có giới hạn cuối cùng. - Dịch vụ đem lại nguồn thu lớn cho doanh nghiệp ở cả 2 khía cạnh: Nguồn thu trực tiếp từ cung ứng dịch vụ và nhờ có dịch vụ mà bán được nhiều hàng hóa hơn.2 Khách hàng 1.1 Khái niệm khách hàng Theo Peter Fdrucker (1954), cha đẻ của ngành quản trị định nghĩa “Khách hàng của một doanh nghiệp là một tập hợp những cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp, v.v… có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu đó”. 9 Tom Peters (1987) coi khách hàng là “tài sản làm tăng thêm giá trị”.
“Đó là tài sản quan trọng nhất mặc dù giá trị của họ không có ghi trong sổ sách doanh nghiệp. Vì vậy các doanh nghiệp phải xem khách hàng như là nguồn vốn cần được quản ltình và phát huy như bất kỳ nguồn vốn nào khác”. Don Sexton có viết trong quyển Marketing căn bản: “Khách hàng có thể là bất cứ ai có quyết định mua hàng. Trong hầu hết các trường hợp trường hợp, chỉ có một số người mới đưa ra những quyết định đó.
Vì vậy phải tìm hiểu xem các quyết định mua hàng được thực hiện như thế nào để từ đó xác định đối tượng khách hàng.” Từ những khái niệm trên ta có thể hiểu khách hàng là những cá nhân hay tổ chức mà doanh nghiệp đang nỗ lực Marketing hướng đến. Họ chính là người ra quyết định mua sắm. Khách hàng là đối tượng được thừa hưởng những đặc tính chất lượng của sản phẩm – dịch vụ.2 Đơn vị ra quyết định Tất cả những người ra quyết định mua hàng dưới bất kì hình thức nào đều được gọi là đơn vị ra quyết định. Những người khác nhau có thể đóng vai trò khác nhau trong đơn vị ra quyết định: - Người gác cổng: Điều chỉnh đường tiếp cận của các thành viên trong đơn vị ra quyết định.
- Người khởi xướng: Bắt đầu quá trình quyết định mua hàng. - Người gây ảnh hưởng: Là người rất quan tâm đến kết quả của quyết định mua hàng và luôn đóng góp ý kiến, quan điểm. - Người ra quyết định: Đưa ra quyết định cuối cùng nhưng vẫn phải là thành viên quan trọng trong đơn vị ra quyết định. - Người phủ quyết: Là người ngừng hành vi mua bán.