MỞ ĐẦU Nhƣ chúng ta đã biết internet là một mạng máy tính toàn cầu do hàng nghìn mạng máy tính từ khắp mọi nơi nối lại tạo lên và lƣợng thuê bao internet tăng đột biến, đứng trƣớc sự phát triển mạnh mẽ về số lƣợng thiết bị mạng nhƣ vậy thì nguy cơ thiếu hụt không gian địa chỉ IPv4 là điều sẽ không tránh khỏi; cùng với những hạn chế trong công nghệ và những nhƣợc điểm của IPv4 đã thúc đẩy sự ra đời của một thế hệ địa chỉ Internet mới là IPv6 với cấu trúc định tuyến tốt hơn, hỗ trợ tốt hơn cho multicast, hỗ trợ bảo mật và di động tốt hơn. Quan điểm chính khi thiết kế IPv6 là từng bƣớc thay thế IPv4, không tạo ra sự biến động lớn đối với hoạt động của mạng Internet nói chung và của từng dịch vụ trên Internet nói riêng, đảm bảo tính tƣơng thích tuyết đối với mạng Internet dùng IPv4 hiện tại. Những chức năng đã đƣợc kiểm nghiệm thành công trong IPv4 sẽ vẫn duy trì trong IPv6. Những chức năng không đƣợc sử dụng trong IPv4 sẽ bị loại bỏ và đồng thời triển khai một số chức năng mới liên quan đến địa chỉ, bảo mật, và triển khai các dịch vụ mới.
Với lƣợng khách hàng băng rộng tại Hải Dƣơng tƣơng đối lớn (khoảng 140.000 thuê bao) để tất cả các thiết bị đầu cuối khách hàng này tƣơng thích với IPv6 là rất khó vì một số thiết bị đầu cuối khách hàng không hỗ trợ IPv6 vậy để tồn tại và hỗ trợ hai giao thức IPv4 và IPv6 trên cùng đƣờng truyền thì chúng ta cần một giải phát để giải quyết vấn đề này; tuy nhiên việc chuyển đổi IPv4-IPv6 cũng cần một cơ chế bảo mật; do vậy đề tài em nghin cứu là “Chuyển đổi IPv4-IPv6 trong mạng băng rộng VNPT và khía cạnh bảo mật liên quan” ; trong đề tài này em nghi cứu sâu về phƣơng pháp chuyển đổi IPv4-IPv6 bằng phƣơng pháp Dual Stack; dual stack còn gọi là cơ chế chồng giao thức, là cơ chế cơ bản nhất cho phép nút mạng đồng thời hỗ trợ cả hai giao thức IPv4 và IPv6, có đƣợc khả năng trên do một trạm Dual Stack cài đặt cả hai giao thức IPv6 và IPv4; lý do em chọn phƣơng pháp Dual Stack là phƣơng pháp này dễ triển khai. 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ IPV4 VÀ IPV6 1. Tổng quan về IPv4 1. Đây là phiên bản đầu tiên của IP đƣợc sử dụng rộng rãi.
Giao thức này đƣợc công bố bởi IETF trong phiên bản RFC 791 (tháng 9 năm 1981), thay thế cho phiên bản RFC 760 (công bố vào tháng 1 năm 1980). Giao thức này cũng đƣợc chuẩn hóa bởi bộ quốc phòng Mỹ trong phiên bản MIL-STD-1777 Hình 1. 1: IPv4 đƣợc viết dƣới dạng nhị phân 1. Cấu trúc địa chỉ IPv4 Địa chỉ IP đƣợc chia thành 2 phần là network (phần mạng) và phần Host Địa chỉ IP có 32 bit nhị phân và đƣợc chia thành các octet (4 cụm, 8 bit) Các quy tắc đƣợc áp dụng khi đặt địa chỉ IP: - Các bit phần mạng không đƣợc phép đặt đồng thời bằng 0 ( Ví dụ: Không hợp lệ nếu đặt địa chỉ 0.1 với phần mạng 0.0 và phần Host là 1).
2 - Sẽ có một địa chỉ mạng nếu các bit phần Host đồng thời có giá trị bằng 0 (Ví dụ : Địa chỉ 192.1 có thể gán cho Host nhƣng thay giá trị 0 vào 192.0 sẽ thành địa chỉ mạng và không thể gán cho Host). - Sẽ có địa chỉ Broadcast cho mạng nếu các bit phần Host đồng thời bằng 1 ( Ví dụ: Mạng 192.255 là địa chỉ Broadcast). 2: Cấu trúc địa chỉ IPv4 1. Các lớp của địa chỉ IPv4 + Lớp A: - Lớp A của địa chỉ IPv4 sử dụng octet đầu làm phần mạng và 3 octet sau làm Host - 0 luôn đƣợc chọn là bit đầu của địa chỉ lớp A - Các địa chỉ mạng lớp A gồm 1.0 - Mạng Lookback là 127.0 - Phần Host gồm 24 bit, mỗi mạng lớp A có 224 – 2 Host 3 Hình 1.
3: Lớp A của địa chỉ IPv4 + Lớp B - Hai octet đầu của địa chỉ lớp B đƣợc dùng làm phần mạng, 2 octet sau đƣợc dùng làm Host - 1 và 0 luôn đƣợc giữ cho hai bit đầu của địa chỉ lớp B - Địa chỉ mạng lớp B gồm 128.0 (tổng cộng có 214 mạng trong lớp B) - Một mạng lớp B có 216 – 2 Host vì phần Host của lớp này dài 16 bit Hình 1. 4: Lớp B của địa chỉ IPv4 + Lớp C: - Địa chỉ lớp C dùng 3 octet đầu làm phần mạng và octet sau làm phần Host - 1 , 1 và 0 đƣợc giữ cho ba bit đầu của địa chỉ lớp C - Mạng lớp C bao gồm các địa chỉ 192.0 (tổng cộng 221 mạng trong lớp C) - Một mạng lớp C có 28 – 2 Host do phần Host của lớp này dài 8 bit 4 Hình 1. 5 Lớp C của đại chỉ IPv4 + Lớp D: - Lớp D bao gồm các địa chỉ từ 224.255 - Lớp D đƣợc dùng làm địa chỉ Multicast.5 dùng cho OSPF hay 224.9 dùng cho RIPv2 + Lớp E: - Gồm các địa chỉ từ dải 240.0 trở đi - Địa chỉ lớp E đƣợc dùng với mục đích dự phòng 1. Một số lưu ý về các lớp của IPv4 - Các lớp địa chỉ IP gồm A, B, C được dùng để đặt cho các Host – Khi muốn xác định địa chỉ IP thuộc lớp nào, nên quan sát octet ở vị trí đầu tiên của địa chỉ đó.
Octet nằm trong khoảng giá trị từ: 1 đến 126: địa chỉ lớp A 128 đến 191: địa chỉ lớp B 192 đến 223: địa chỉ lớp C 224 đến 239: địa chỉ lớp D 240 đến 255: địa chỉ lớp E 5 1. Hạn chế của IPv4 Hình 1. 6 Hạn chế của IPv4 - Không có bất cứ cách thức bảo mật nào đi kèm trong cấu trúc thiết kế của địa chỉ IPv4: Phƣơng tiện hỗ trợ mã hóa dữ liệu cũng không đƣợc tích hợp trong IPv4. Do đó, lƣu lƣợng truyền tải giữa các Host không đƣợc bảo mật mà chỉ bảo mật phổ biến ở mức ứng dụng.
Áp dụng IPSec – một phƣơng thức bảo mật phổ biến tại tầng IP thì việc bảo mật lƣu lƣợng đầu cuối bị hạn chế. - Một hạn chế nữa của IPv4 đó là việc thiếu hụt không gian địa chỉ: Do phiên bản này chỉ sử dụng 32 bit để đánh địa chỉ nên không gian của nó chỉ có 232 địa chỉ. Nhƣ vậy, cùng với sự bùng nổ của internet thì tài nguyên địa chỉ IPv4 đang dần cạn kiệt. Phiên bản này gần nhƣ đáp ứng không đủ so với nhu cầu sử dụng.
Để khắc phục những hạn chế của IPv4 đồng thời mang lại những đặc tính mới cho hoạt động mạng thế hệ tiếp, ngƣời ta đã đầu tƣ nghiên cứu và cho ra đời một giao thức internet mới. Giao thức IP thế hệ mới (thế hệ 6: IPv6) ra đời để khắc phục những nhƣợc điểm của phiên bản tiền nhiệm. IPv6 bao gồm 128 bit, có chiều dài gấp 4 lần so với địa chỉ IPv4. Các tính năng của IPv6 1.
Dạng mào đầu gói tin mới Phần header của IPv6 đƣợc giảm xuống mức tối thiểu bằng việc chuyển tất cả các trƣờng phụ hoặc không cần thiết xuống phần header mở rộng nằm sau phần IPv6 header. Việc tổ chức phần header hợp lý này làm tăng hiệu quả xử lý tại các router trung gian. IPv6 header và IPv4 header là không tƣơng thích với nhau, do đó các node phải đƣợc cài đặt cả 2 phiên bản IP mới có thể xử lý các header khác nhau này. Không gian địa chỉ lớn hơn: IPv6 sử dụng 128 bit để đánh dấu địa chỉ nên số lƣợng địa chỉ có đƣợc là rất lớn khoảng 3,4.
Với không gian địa chỉ lớn nhƣ vậy cho phép phân chia địa chỉ thành nhiều mức khác nhau từ mạng trục, mạng trung gian đến địa chỉ cho mạng riêng của từng tổ chức. Hiện tại mới chỉ có một số ít các địa chỉ dùng cho các host nên số lƣợng địa chỉ dự phòng cho tƣơng lai là rất nhiều do đó sẽ không cần phải sử dụng kỹ thuật NAT nữa. Tự động cấu hình địa chỉ: Tƣơng tự nhƣ IPv4 với IPv6 cũng cung cấp khả năng cấu hình địa chỉ tự động sử dụng DHCP. Đồng thời nó còn đƣa ra khả năng tự động cấu hình địa chỉ khi không có DHCP server.
Trong một mạng các host có thể tự động cấu hình địa chỉ của nó bằng cách sử dụng IPv6 prefix nhận đƣợc từ router (gọi là địa chỉ link – local). Hơn nữa nếu trong một mạng mà không có router thì host cũng có thể tự động cấu hình địa chỉ link – local cho nó để thông tin với các host khác. Với sự phát triển nhanh chóng của mạng Internet cũng bị hạn chế bởi sự phức tạp trong việc sử dụng nên giao thức IPv6 đƣợc xây dựng với tiêu chí đơn giản dễ sử dụng ngay cả với ngƣời không hiểu biết về công nghệ. Điều này đƣa đến một đặc điểm của IPv6 chỉ yêu cầu một phần nhỏ cho việc cấu hình và bảo dƣỡng mạng.
An ninh thông tin: Các cơ chế bảo mật đƣợc tăng cƣờng, có phần tiều đề dành cho bảo mật tƣơng ứng với hai kỹ thuật bảo mật trong Ipsec là: AH và ESP. Giao thức IPv6 hỗ trợ toàn bộ các tính năng của IPsec và cho phép sử dụng các thuật toán mã hóa, chứng thực và tính toàn vẹn dữ liệu Đây là một tiêu chuẩn cho an ninh mạng đồng thời mở rộng khả năng làm việc đƣợc với nhau của các loại sản phẩm. Hỗ trợ qos tốt hơn: Phần header của IPv6 đƣợc đƣa thêm một số trƣờng mới. Trƣờng Flow Label trong IPv6 header đƣợc dùng để nhận dạng luồng dữ liệu.
Từ đó router có thể có những chính sách khác nhau với các gói tin có luồng dữ liệu khác nhau. Do trƣờng Flow 7 Label nằm trong IPv6 header nên QoS vẫn đƣợc đảm bảo khi phần tải trọng có mã hóa bởi IPSec. Giao thức mới cho thông tin giữa các host liền kề: Giao thức khám phá node liền kề (Neighbor Discovery) của IPv6 bao gồm hàng loạt các mesage điều khiển dạng ICMPv6 nhằm điều khiển sự tƣơng tác giữa các node trong cùng một mạng kết nối. Giao thức này thay thế cho các bản tin phát quảng bá phân giải địa chỉ ARP, bản tin tìm kiếm router ICMP Router Discovery, ICMP redirect của IPv4 bằng các bản tin unicast và mutlticast Neighbor Discovery.
Cấu trúc, phân bổ và cách viết địa chỉ IPv6 1. Cấu trúc gói tin IPv6 trong mạng lan Giao thức IPv6 đƣợc đƣa ra nhằm thay thế giao thức IPv4 hiện nay do đó nó gần nhƣ chỉ liên quan tới các lớp trên trong mô hình OSI.