Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp tập trung giải quyết bài toán nâng cao chất lượng quản lý và tổ chức lễ hội truyền thống trong bối cảnh giao lưu kinh tế và phát triển du lịch văn hóa. Lễ hội truyền thống tại Việt Nam là di sản văn hóa tinh thần do cộng đồng sáng tạo, lưu truyền qua nhiều thế hệ; tuy nhiên, dưới tác động của kinh tế thị trường và nhịp sống hiện đại, một bộ phận công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ, có xu hướng giảm sút sự quan tâm đối với các sinh hoạt văn hóa dân gian cổ truyền. Lễ hội Chọi Trâu Đồ Sơn (thành phố Hải Phòng) là một trong mười lăm lễ hội truyền thống cấp quốc gia tiêu biểu, phản ánh đậm nét bản sắc văn hóa thượng võ của cư dân miền biển. Việc nghiên cứu công tác tổ chức và quản lý lễ hội xuất phát từ yêu cầu bảo tồn phong tục cổ truyền, hạn chế các biểu hiện tiêu cực nảy sinh và tối ưu hóa hiệu quả du lịch địa phương.

Về phương diện chủ quan, tác giả xuất thân từ thành phố Hải Phòng, có quá trình quan sát thực tế lễ hội từ nhỏ và tiếp tục đào tạo chuyên ngành Văn hóa du lịch với học phần Phong tục tập quán lễ hội Việt Nam. Dưới sự hướng dẫn của giảng viên Bùi Văn Hòa, tác giả triển khai đề tài nhằm gắn kết lý luận văn hóa du lịch với thực tiễn quản lý địa bàn.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu, đánh giá thực trạng và sự phát triển của Lễ hội Chọi Trâu Đồ Sơn, phân tích những điểm mạnh, điểm yếu trong công tác tổ chức và quản lý; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức, bảo tồn nét đẹp văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch trong thời kỳ hội nhập.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm bốn nội dung cụ thể:

  1. Phân tích và làm rõ cơ sở lý luận về các lễ hội truyền thống Việt Nam.
  2. Tìm hiểu về nguồn gốc, phát tích của lễ hội truyền thống nói chung và Lễ hội Chọi Trâu Đồ Sơn nói riêng.
  3. Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác tổ chức và quản lý Lễ hội Chọi Trâu Đồ Sơn.
  4. Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức và quản lý Lễ hội Chọi Trâu Đồ Sơn - Hải Phòng.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là Lễ hội Chọi Trâu Đồ Sơn và các tác động, ảnh hưởng của lễ hội đối với đời sống văn hóa - xã hội, hoạt động du lịch tại quận Đồ Sơn và thành phố Hải Phòng. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong không gian bán đảo Đồ Sơn, xét theo tiến trình thời gian trước, trong và sau thời điểm diễn ra lễ hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống khái niệm nền tảng về cấu trúc văn hóa của lễ hội truyền thống:

  • Khái niệm "Lễ": Được tiếp cận từ nguồn gốc chữ Hán thời nhà Chu (thế kỷ XII trước Công nguyên), ban đầu là đồ tế cúng thần tổ tông của tầng lớp quý tộc, sau đó phát triển thành hệ thống quy phạm phân biệt trật tự tôn ti xã hội và bao quát mọi nghi thức ứng xử giữa con người với tự nhiên, xã hội. Khóa luận liệt kê các nghi lễ tiêu biểu gồm: Lễ rước nước, Lễ mộc dục (tắm tượng thần), Tế gia quan (khoác áo mũ cho thần), Đám rước (phụng nghênh hồi đình), Đại tế (mổ trâu, bò dâng thần), Lễ túc trực và Lễ hèm (diễn lại tích đời của vị thần).
  • Khái niệm "Hội": Là hình thức sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, giải trí mang tính cộng đồng nhằm giải tỏa tâm lý sau chuỗi ngày lao động, quy tụ khát vọng "Nhân - Khang - Vật - Thịnh". Thư tịch cổ ghi nhận lễ hội người Việt có từ thời nhà Lý (thế kỷ XI) hoặc phát triển đồng hành cùng nền văn minh Đông Sơn qua các hội mùa, hội làng.
  • Mối quan hệ giữa "Lễ" và "Hội": "Lễ" là hệ thống tĩnh, quy phạm nghiêm ngặt cử hành nơi đình trung; "Hội" là hệ thống động, mở, dân dã, diễn ra trên bãi sân thông qua các trò thi tài, phong tục, nghệ thuật biểu diễn. Hai yếu tố này đan xen, thâm nhập chặt chẽ.

Về phân loại lễ hội, khóa luận dẫn luận các quan điểm phân loại theo mục đích (nông nghiệp, phồn thực giao duyên, văn nghệ, thi tài, lịch sử), quan điểm của Đinh Gia Khánh (1989, căn cứ nguồn gốc tôn giáo hoặc không tôn giáo), khảo sát của Tôn Thất Bình tại Thừa Thiên Huế (4 loại) và quan điểm của Hoàng Lương phân định lễ hội miền Bắc thành hai nhóm: lễ hội liên quan đến tín ngưỡng cầu mùa và lễ hội tưởng niệm danh nhân, anh hùng dân tộc, thành hoàng, thánh phật. Theo lịch sử, lễ hội chia thành lễ hội truyền thống và lễ hội hiện đại (hình thành sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 như các kỳ festival, liên hoan du lịch).

Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước sử dụng định nghĩa của Mai Hữu Luân (2003) trong giáo trình Lý luận quản lý hành chính nhà nước, cùng quan điểm của Bùi Hoài Sơn và Phạm Thanh Quy. Khóa luận nêu rõ bốn công đoạn quản lý: xác định nội dung và phương thức tổ chức; xây dựng kế hoạch; tổ chức chỉ đạo, kiểm tra, giám sát; tổng kết, rút kinh nghiệm.

Khung pháp lý được tác giả viện dẫn bao gồm:

  • Luật Du lịch (trọng tâm là Điều 79 về xúc tiến, quảng bá du lịch).
  • Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa.
  • Quyết định số 39/2001/QĐ-BVHTT của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Quy chế tổ chức lễ hội (đặc biệt là Điều 13 Chương II về cơ cấu Ban Tổ chức).
  • Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 về Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng.
  • Nghị định số 75/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa.
  • Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 quy định chi tiết thi hành Luật Di sản văn hóa.

Phương pháp nghiên cứu thực hiện qua bốn kỹ thuật chính:

  1. Phương pháp thu thập và xử lý thông tin thứ cấp: Khai thác thư tịch cổ (Đồng Khánh địa dư chí lược, Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Đại Nam nhất thống chí), tài liệu nghiên cứu văn hóa dân gian và văn bản pháp quy.
  2. Phương pháp phân tích - tổng hợp: Xử lý lý luận quản lý và đánh giá thực trạng các hoạt động lễ hội.
  3. Phương pháp so sánh, đối chiếu: Phân tích sự biến đổi giữa lễ hội truyền thống xưa và nay.
  4. Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát, ghi nhận thực tế quy trình chuẩn bị, điều hành tại địa bàn Đồ Sơn.

Nguồn dữ liệu trong khóa luận gồm số liệu thống kê của Cục Văn hóa cơ sở thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân quận Đồ Sơn và quan sát diễn trình lễ hội năm 2013.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về lễ hội

Chương này trình bày hệ thống lý luận về cấu trúc, phân loại, đặc điểm của lễ hội truyền thống và cơ chế quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa. Tác giả phân tích các đặc trưng cơ bản của lễ hội truyền thống Việt Nam:

  • Thời gian: Diễn ra chủ yếu vào ba tháng mùa xuân và mùa thu, thời điểm nông nhàn và thời tiết thuận lợi.
  • Không gian linh thiêng: Bao gồm không gian tự nhiên (rừng cấm, đầu nguồn nước) và không gian xã hội/nhân tạo (đình, đền, miếu, chùa).
  • Quy trình: Thực hiện theo ba giai đoạn tuần tự: Chuẩn bị, Vào hội và Kết thúc hội (xuất tịch, giã đám).

Về ảnh hưởng xã hội, chương 1 phân tích mối quan hệ giữa lễ hội với kinh tế thông qua khái niệm "xuất khẩu tại chỗ" sản vật địa phương, tác động tới ổn định chính trị, giáo dục truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" và sự tương tác hai chiều với ngành du lịch. Số liệu từ Cục Văn hóa cơ sở cho thấy Việt Nam có 7.966 lễ hội lớn nhỏ trong một năm, trung bình mỗi ngày diễn ra 22 lễ hội. Bên cạnh tiềm năng văn hóa dồi dào, tác giả chỉ ra các hiện tượng tiêu cực trong thực trạng du lịch lễ hội như thương mại hóa quá mức, mê tín dị đoan, trộm cắp, ép giá dịch vụ, lãng phí thời gian và xu hướng thuê các công ty tổ chức sự kiện dàn dựng kịch bản rập khuôn tại nhiều địa phương.

Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức và quản lý Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn - Hải Phòng

Chương 2 mô tả điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa quận Đồ Sơn - bán đảo hình thành từ chín ngọn núi vươn ra vịnh Bắc Bộ gắn với hòn núi Độc, thế đất "cửu long tranh châu". Nơi đây bảo lưu nhiều di tích như tháp Tường Long thời Lý, đền Bà Đế, bến K15 của tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển, đồng thời là căn cứ cuộc khởi nghĩa nông dân do Nguyễn Hữu Cầu chỉ huy (1741-1745).

Tác giả tổng hợp sáu truyền thuyết lý giải nguồn gốc tục chọi trâu:

  1. Thần Điểm Tước giáng hạ thấy trâu húc nhau, dân làng mở hội làm vui lòng thần.
  2. Dân chài khấn thần diệt quái vật cá kình, thần dùng chim thần cắn chết quái vật, dân mua trâu tạ lễ ở đền Nghè thì trâu đứt dây chọi nhau.
  3. Hai con trâu trắng giao đấu ở đầu làng rồi biến mất xuống sông trong làn sương mù.
  4. Nàng Đế bị oan dìm xuống biển, vua Thủy Tề đón về làm vợ, nơi ấy tụ nhiều cá; các vạn chài tổ chức chọi trâu, vạn có trâu thắng được chiếm bãi cá và đem trâu thắng tế thần.
  5. Vầng hào quang trên biển đêm rằm tháng Tám với hình ảnh ông lão râu cước xem trâu chọi trên đầu sóng trước cơn mưa giải hạn.
  6. Tục múa cờ và chọi trâu mô phỏng lễ ra quân của thủ lĩnh khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu.

Nội dung chương 2 so sánh toàn diện giữa lễ hội chọi trâu xưa và nay:

Tiêu chí Lễ hội Chọi Trâu xưa Lễ hội Chọi Trâu ngày nay
Quy mô và vị thế Lễ hội truyền thống địa phương của tổng Đồ Sơn Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (công nhận năm 2013), sự kiện cấp quốc gia
Thời gian tổ chức Ngày 9/8 âm lịch (vòng loại diễn ra ngày 15/7 âm lịch) Ngày 9/8 âm lịch (vòng loại và vòng chung kết được lập kế hoạch hàng năm)
Địa điểm, không gian Đình Tổng Đồ Sơn, bãi đất rộng khoảng 6 mẫu, cọc căng dây Sân vận động trung tâm quận Đồ Sơn (nâng cấp năm 2009, sức chứa 30.000 khán giả)
Số lượng trâu tham gia Khoảng 12 - 14 trâu của các giáp (năm 1990) 16 trâu lọt vào vòng chung kết (có sự tham gia đóng góp của tư nhân)
Lực lượng múa cờ Chỉ có trai làng vạm vỡ, khỏe mạnh tham gia Mở rộng cho nữ giới và nhiều ngành nghề: bộ đội, giáo viên, học sinh
Số phận trâu thắng cuộc Rước về đình, xưa kia đem hiến sinh ném xuống xoáy nước Hòn Độc Rước về đình làm lễ tế thần, trao giải thưởng bằng hiện vật giá trị cao
Xử lý số trâu sau hội Toàn bộ 12 trâu chọi mổ thịt vào ngày 10/8 âm lịch tế tạ thần linh, chia thịt cho suất đinh Giết thịt tế thần tại phường có trâu vô địch, bán thịt trâu chọi phục vụ du khách

Quy trình chọn trâu cổ truyền đòi hỏi tiêu chuẩn khắt khe: tuổi từ 4 đến 5 trở lên; dáng hình cân đối như mình cá trắm; ức rộng; cổ cò; đuôi chai; đít nhọn; háng to; lưng tôm bà (nổi cục, cong nhẹ); ngà sừng màu vàng đều từ đỉnh đến mút cao khoảng 6 tấc, khoảng cách hai đầu ngà 1 thước 2; có bốn khoáy lông ở bốn góc lưng. Chế độ nuôi trâu cách ly chuồng trại kín đáo, cho ăn cỏ non trộn cam, kiêng tiếp xúc phụ nữ và đám ma; trải qua hai đợt tập luyện, thử chọi để rèn phản xạ với cờ, trống và tiếng reo hò.

Khóa luận phân tích thực trạng năm 2013: Lễ hội là một trong 23 sự kiện chính của Năm Du lịch Quốc gia Đồng bằng sông Hồng - Hải Phòng 2013, thu hút hơn 3 vạn du khách trực tiếp tại sân vận động (địa chỉ số 274 Lý Thánh Tông) và hàng triệu khán giả truyền hình. Ban Tổ chức do Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Đồ Sơn làm Trưởng ban, vận hành theo Điều 13 Quy chế tổ chức lễ hội của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Diễn trình phần Lễ gồm: Lễ trình (1/8 âm lịch), Lễ rước nước (7/8 âm lịch), Lễ tế thần tại phường có trâu vô địch (10/8 âm lịch) và Lễ tống thần (16/8 âm lịch). Phần Hội gồm lễ rước lúc 6h00 ngày 9/8 âm lịch, khai mạc lúc 8h00 với màn tấu trống, múa cờ tái hiện trận thế của Nguyễn Hữu Cầu, tiếp đó là 15 kháp đấu loại trực tiếp của 16 trâu. Công tác quản lý tài chính thực hiện qua hai nguồn: ngân sách thành phố cấp qua tài khoản Ủy ban nhân dân quận và nguồn thu xã hội hóa (công đức, tài trợ, phí dịch vụ). Quản lý nhân lực chia làm nguồn nhân lực tại chỗ và nguồn nhân lực vãng lai (hàng rong, ăn xin).

Chương 3: Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức và quản lý lễ hội Chọi Trâu Đồ Sơn - Hải Phòng

Từ các bất cập trong khâu tổ chức và thương mại hóa dịch vụ, chương 3 đề xuất bảy nhóm giải pháp:

  1. Hoàn thiện cơ cấu bộ máy tổ chức và quản lý lễ hội: Phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý nhà nước và ban điều hành cơ sở.
  2. Hoàn thiện nội dung chương trình tổ chức lễ hội: Đảm bảo tính khoa học, chuẩn hóa thời gian các trận đấu và màn trình diễn nghệ thuật.
  3. Chú trọng bảo tồn giá trị của lễ hội: Giữ gìn nguyên bản các nghi thức tế lễ truyền thống, tính tôn nghiêm của lễ hiến sinh và tinh thần thượng võ.
  4. Công tác tuyên truyền và phổ biến các văn bản quy định của lễ hội: Đẩy mạnh phổ biến Luật Di sản văn hóa, quy chế lễ hội trên hệ thống truyền thanh và tuyên truyền trực quan.
  5. Đẩy mạnh công tác quản lý bảo vệ cảnh quan di tích và lễ hội: Quy hoạch các điểm di tích gắn liền như đình Tổng, đền Nghè, đền Bà Đế, tháp Tường Long.
  6. Tăng cường quản lý dịch vụ, vệ sinh môi trường, trật tự công cộng: Bố trí lực lượng an ninh xử lý trộm cắp, kiểm soát giá dịch vụ, quản lý rác thải và an toàn giao thông quanh khu vực thi đấu.
  7. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa: Đa dạng hóa nguồn tài trợ từ doanh nghiệp và nhân dân, công khai, minh bạch các khoản thu chi tài chính.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận ghi nhận và tổng hợp các số liệu định lượng về quy mô hoạt động:

  • Cả nước có 7.966 lễ hội truyền thống, bình quân 22 lễ hội/ngày theo thống kê của Cục Văn hóa cơ sở.
  • Sân vận động trung tâm quận Đồ Sơn được nâng cấp năm 2009 với sức chứa 30.000 chỗ ngồi nhân kỷ niệm 20 năm khôi phục lễ hội.
  • Năm 2013 ghi nhận lượng khách kỷ lục với hơn 3 vạn du khách trực tiếp tại sân vận động số 274 Lý Thánh Tông và hàng triệu lượt xem qua truyền hình Hải Phòng.
  • Vòng chung kết quy tụ 16 trâu thi đấu loại trực tiếp; ngày 10/8 âm lịch toàn bộ số trâu chọi gồm 12 con được giết thịt tế thần và phân chia trong cộng đồng.

Về mặt giải pháp, tác giả hệ thống hóa bảy nhóm giải pháp điều hành toàn diện từ cấp quản lý bộ máy đến quản lý trật tự công cộng, tài chính và vệ sinh môi trường. Khóa luận đóng góp nguồn tư liệu thực địa chi tiết về tập quán chọn trâu, quy trình huấn luyện trâu và diễn trình các nghi thức tâm linh bản địa, qua đó làm rõ mối liên hệ giữa bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể với bài toán phát triển kinh tế du lịch địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tập trung nghiên cứu trên địa bàn quận Đồ Sơn với trọng tâm khảo sát là kỳ lễ hội năm 2013, do đó dữ liệu chủ yếu phản ánh tình hình quản lý ở giai đoạn này. Các phân tích chủ yếu mang tính định tính dựa trên báo cáo hành chính và quan sát thực địa, chưa xây dựng các bảng biểu thống kê chi tiết về cơ cấu kinh tế, doanh thu từ các nguồn dịch vụ du lịch phụ trợ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng điều tra xã hội học bằng bảng hỏi định lượng đối với du khách thập phương, nghiên cứu các cơ chế kinh tế du lịch bền vững và xây dựng mô hình liên kết vùng giữa du lịch lễ hội Đồ Sơn với các tuyến điểm du lịch văn hóa khác tại vùng duyên hải Bắc Bộ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên các ngành Văn hóa học, Quản lý văn hóa, Việt Nam học và Quản trị dịch vụ du lịch khi nghiên cứu về lễ hội truyền thống và du lịch văn hóa. Cán bộ quản lý văn hóa - thông tin cấp cơ sở có thể tham khảo mô hình tổ chức bộ máy, phương án phân luồng nhân lực và quy chế quản lý tài chính lễ hội được trình bày trong công trình.

Các nội dung có giá trị tham chiếu cao bao gồm:

  • Khung lý thuyết và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý lễ hội tại Chương 1.
  • Tư liệu dân tộc học về kỹ thuật chọn trâu, nuôi luyện trâu và diễn trình nghi lễ tại Chương 2.
  • Nhóm giải pháp tổ chức không gian sự kiện và xã hội hóa nguồn lực tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

Lễ hội Chọi Trâu Đồ Sơn thờ cúng vị thần nào và mang ý nghĩa gì trong đời sống tâm linh bản địa?
Lễ hội thờ Thủy Thần (thần sông nước) và thần Điểm Tước (vị thần hộ mệnh của ngư dân Đồ Sơn). Nghi lễ chọi trâu và hiến sinh trâu phản ánh ước vọng cầu mong biển yên, sóng lặng, ngư dân ra khơi may mắn, mùa màng tốt tươi, đồng thời thể hiện tinh thần thượng võ và sự táo bạo của cư dân miền biển.

Kinh nghiệm dân gian Đồ Sơn quy định tiêu chuẩn chọn trâu chọi như thế nào?
Trâu chọi phải từ 4 đến 5 tuổi trở lên; thân hình cân đối, dài như mình cá trắm; ức rộng; cổ cò; đuôi chai; đít nhọn; háng to; lưng tôm bà nổi cục; sừng cánh cung với ngà màu vàng đều cao khoảng 6 tấc, hai đầu ngà cách nhau 1 thước 2; có bốn khoáy lông ở bốn góc trên lưng.

Diễn trình phần Lễ trong Lễ hội Chọi Trâu Đồ Sơn gồm những mốc thời gian và nghi thức nào?
Phần Lễ diễn ra theo lịch âm: ngày 1/8 làm Lễ trình; ngày 7/8 tổ chức Lễ rước nước; sáng ngày 9/8 diễn ra lễ rước của các đoàn trước khi khai mạc thi đấu; ngày 10/8 tổ chức Lễ tế thần tại phường có trâu vô địch; ngày 16/8 tiến hành Lễ tống thần để khép lại lễ hội.

Cơ cấu Ban Tổ chức Lễ hội Chọi Trâu Đồ Sơn được thành lập dựa trên căn cứ pháp lý nào?
Ban Tổ chức được thành lập theo cơ cấu quy định tại Chương II, Điều 13 trong Quy chế tổ chức lễ hội (ban hành kèm theo Quyết định số 39/2001/QĐ-BVHTT của Bộ Văn hóa - Thông tin), do Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Đồ Sơn làm Trưởng ban, chịu trách nhiệm xây dựng quy chế hoạt động, quản lý tài chính và điều hành toàn bộ lễ hội.

Nghi thức múa cờ trước các trận đấu chọi trâu mang ý nghĩa lịch sử gì?
Múa cờ là nghi thức "Mở trận" do đội hình thanh niên trình diễn với các bước tiến lùi đan chéo tả xung hữu đột. Nghi thức này gắn liền với tích lễ ra quân của thủ lĩnh nông dân Nguyễn Hữu Cầu (quận He) thế kỷ XVIII, đồng thời biểu trưng cho lời cầu nguyện thần gió phù hộ thuyền bè vượt sóng gió đại dương.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về lễ hội truyền thống và quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa, đồng thời phục dựng bức tranh toàn diện về Lễ hội Chọi Trâu Đồ Sơn từ lịch sử, truyền thuyết đến diễn trình tổ chức thực tế. Thông qua việc phân tích thực trạng năm 2013 - năm lễ hội được vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, công trình chỉ rõ những thành tựu cùng các bất cập trong khâu điều hành, trật tự xã hội và thương mại hóa. Bảy nhóm giải pháp được đề xuất mang tính ứng dụng thực tiễn, đóng góp định hướng cụ thể nhằm bảo tồn giá trị văn hóa cổ truyền gắn với phát triển du lịch bền vững tại địa phương.