Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về lễ hội Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức và quản lý Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn - Hải Phòng Chương 3: Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức và quản lý lễ hội Chọi Trâu Đồ Sơn - Hải Phòng 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỄ HỘI 1. Khái quát chung về lễ hội ở Việt Nam. Mùa xuân - mùa khởi đầu cho một năm, mùa sinh sôi nảy nở của vạn vật, cỏ cây… giữa tiết trời ấm áp ấy, lòng người phơi phới rủ nhau đi hội, hành hương về cội nguồn, con người hạnh phúc. Mùa xuân cũng là mùa của lễ hội, con người vừa đi hội để vui chơi, vừa là cầu mong những điều may mắn, những điều tốt đẹp nhất cho một năm bắt đầu.
Lễ hội nước ta thật đa dạng và phong phú. Theo thống kê của các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian, Việt Nam có gần 500 lễ hội truyền thống lớn, nhỏ trải khắp đất nước trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một đối tượng linh thiêng cần được suy tôn như những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người có công dạy dỗ truyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác, giàu lòng cứu nhân độ thế… Với tư tưởng uống nước nhớ nguồn, ngày hội diễn ra sôi động bằng những sự tích, công trạng, là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao tổ tiên, thêm tự hào về truyền thống quê hương, đất nước của mình. Đặc biệt, lễ hội nước ta gắn bó với làng, xã, địa danh, vùng đất như một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống cộng đồng nhân dân.
“Lễ hội” là hình thức sinh hoạt văn hoá đặc sắc phản ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc, mỗi hình thức sinh hoạt tập thể của người dân sau những ngày lao động vất vả, là dịp mọi người hướng về những sự kiện trọng đại hoặc liên quan đến những tín ngưỡng hay vui chơi giải trí.1 Khái niệm và mối quan hệ “lễ” và “hội” 1. Khái niệm về “Lễ” “Lễ” theo tiếng việt là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó. Trong thực tế “lễ” có nhiều ý nghĩa và một lịch sử hình thành khá phức tạp. Chữ “lễ” được hình thành và biết tới từ thời kỳ Chu (thế kỷ 12 trước công 7 nguyên), lúc đầu chữ “lễ” được hiểu là lễ vật của các gia đình quý tộc, nhà Chu cúng tế thần tổ tông gọi là tế lễ.
Dần dần, chữ “lễ” được mở rộng nghĩa là hình thức, phép tắc để phân biệt trên, dưới, sang, hèn, thứ bậc lớn, nhỏ, thân, sơ trong xã hội khi đã phân hoá thành đẳng cấp. Cuối cùng khi xã hội đã phát triển thì ý nghĩa của “lễ” càng được mở rộng như lễ Thành hoàng, lễ Gia tiên, lễ cầu an, lễ cầu mưa… Do ngày càng mở rộng phạm vi nên đến đây “lễ” đã mang ý nghĩa bao quát mọi nghi thức ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội. Như vậy ta có thể đi đến một khái niệm chung, k :. : 1- , giữa giếng nước về đình (về đền).
Nước thường đựng vào chóe sứ hay bình sứ đã lau chùi sach sẽ. Người ta múc nước từ gáo đồng, lúc đổ nước phải qua miếng vải đỏ ở miệng bình, miệng chóe. Sau đó, bình nước đưa lên kiệu rước về nơi thần linh an ngự. 2- Lễ mộc dục: Ngay sau lẽ rước nước làng cử hành lễ mộc dục (tức là lễ tắm rửa tượng thần).
Công việc này thường giao cho một số người có tín nhiệm. Họ thắp hương, dâng lễ rồi tiến hành công việc một cách thận trọng. Tượng thần được tắm 2 lần nước (lần thứ nhất được tăm bằng nước làng vừa rước về, lần 2 bằng nước ngũ vị đã chuẩn bị trước). 3- Tế gia quan: Là lễ khoác áo, mũ cho tượng thần, bài vị.
Cũng có thể là áo mũ đại trào được triều đình ban theo chức tước, phẩm hàm lúc đương thời hoặc là áo mũ hàng mã đặt làm (theo sắc phong) thờ ở nơi thần an ngự. 4- Đám rước: Đón thần vị từ nơi ngài ngự (đền, miếu, nghè…) về đình 8 (gọi là phụng nghênh hồi đình) được tổ chức để ngài xem hội, dự hưởng lễ vật được dâng từ tấm lòng thành kính của toàn thể dân làng. 5- Đại tế: Là nghi thức lễ trang trọng nhất khi bài vị vừa rước ra đình. Tại lễ này, làng thường mổ trâu, mổ bò làm lễ vật dâng cúng thần linh.
6- Lễ túc trực: Là lễ trông nom, canh giữ bài vị hoặc tượng thần lúc rước từ đền, miếu, ra đình, chùa… tùy theo thời gian mở hội dài hay ngắn mà tượng thần sẽ ngự tại đình lâu hay mau. 7- Lễ hèm: Ở những hội làng có thần tích không bình thường thì trong hội có thêm tục hèm. Hèm là một hành động nghi lễ nhằm diễn lại một quãng đời “đặc biêt” của thần lúc sinh thời (hoặc một chi tiết hành động mang tính cá biệt rất tiêu biểu). Khái niệm về “Hội”: “Hội’’ là đám vui đông người gồm hai đặc điểm là đông người, tập trung trong một địa điểm và vui chơi với nhau.
Nhưng nếu chỉ có vậy nhiều khi chưa thành “Hội” phải bao gồm các yếu tố sau đây mới đủ ý nghĩa của nó: “Hội” phải được tổ chức nhân dịp kỷ niệm một sự kiện quan trọng nào đó liên quan đến bản làng, cộng đồng dân tộc; “Hội” đem lại lợi ích tinh thần cho mọi thành viên của cộng đồng mang tính cộng đồng cả tư cách tổ chức lẫn mục đích của nó. “Hội” có nhiều trò vui đến mức hỗn độn. Đây là sự cộng cảm cần thiết của phương diện tâm lý sau những ngày tháng lao động vất vả với những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày mà ai cũng phải trải qua. Đến với “Hội” mọi người sẽ được giải toả thăng bằng trở lại.
Vậy khái niệm “Hội” đươc tập trung lại như sau: “Hội” là sinh hoạt văn hoá tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng dòng họ, từng gia đình. Sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của những mùa màng mà bao đời nay đã quy tụ vào niềm mơ ước chung với bốn chữ “Nhân - Khang - Vật - Thịnh”. Theo thư tịch cổ lễ hội của người Việt xuất phát từ thời nhà lý (thế kỷ XI) có quan điểm cho rằng lễ hội của dân tộc Việt Nam đã hình thành và phát triển cùng với lịch sử của dân tộc, của đất nước biểu hiện qua trống đồng Đông Sơn 9 mà tiêu biểu là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ - Cái nôi của dân tộc Việt Nam, đó là những hội mùa, hội làng. Tuy thời điểm ra đời của lễ hội có nhiều tranh cãi nhưng đến nay ngày hội cấu kết cộng đồng biểu trưng những giá trị của đời sống tâm linh, đời sống xã hội và văn hoá cộng đồng.
Dù có những lễ hội mang tính toàn quốc, có những lễ hội mang tính vùng miền địa phương trong thời gian gần đây các hoạt động tìm hiểu khôi phục lễ hội kế thừa các sinh hoạt lễ hội truyền thống đã thu hút được sự quan tâm của toàn thể xã hội nhằm thực hiện mục tiêu xây dưng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Tóm lại, “Hội” là để vui chơi, chơi thỏa thích, thoải mái. Nó không bị rang buộc bởi nghi lễ tôn giáo, đẳng cấp, tuổi tác. Sau những tháng ngày làm ăn lam lũ, dân làng chờ đón ngày hội như chờ đón một niềm tin vui cộng đồng.
Họ đến với hội trong tinh thần cộng cảm, hồ hởi, sảng khoái và hoàn toàn tự nguyện. Ngoài vui chơi giải trí, ngoài gặp gỡ ban bầu, mọi người về dự hội đều cảm thấy hình như mình còn được thêm một cái gì nữa. Phải chăng đó là “lộc thánh”, “lộc thần”. Hay tất cả gọi chung là lộc hội.
Thứ quyền lợi vô hình ấy chỉ có trong ngày hội và ai muốn được thì phải đến tận nơi mà nhận chứ không ai có thể ai nhận thay cho ai. Chính vì vậy mà hội rất đông, rất nhộn nhịp. Những ngày làng vào đám, nhịp sống thôn dã tưng bừng hẳn lên. Đó là một thực tế ai cũng thấy, cũng cảm nhận được.
Mối quan hệ giữa “Lễ” và “Hội”: Lễ hội liên quan đến tín ngưỡng và tôn giáo. Do trình độ nhận thức còn hạn chế, người xưa rất tin vào trời, đất, sông, núi. Ở các làng thường có miếu thờ Tiên thần, Tổ thần, Thủy thần, Sơn thần và một số làng cũng nhận các vị thần ấy là Thanh hoàng làng. Lễ hội là hoạt động của tập thể người.
Không có con người tham gia tổ chức thì không thành hội được. Vì vậy, nhân vật hội là yếu tố khá quan trọng của lễ hội. Ngoài những nhân vật chủ chốt như chủ tế, ban khánh tiết, người khiêng kiệu, người cầm cờ, cầm lọng, phường nhạc,. còn phải có sự đóng góp ngưỡng mộ của người xem thì hội mới càng thêm kết quả.
Nếu như lễ là một hệ thống tĩnh có tính quy phạm nghiêm ngặt được cử hành tại chốn Đình trung thì trái lại, Hội là một sinh hoạt dân dã phóng khoáng diễn ra trên bãi 10 sân để dân làng cùng bình đẳng vui chơi với hàng loạt trò, tục hấp dẫn do mình chủ động tham gia. Hội là một hệ thống trò chơi, trò diễn phong phú và đa dạng, có thể kể đến các loại trò sau đây: trò chơi thượng võ, trò chơi thi tài, trò chơi nghề nghiệp, trò chơi giải trí, trò chơi chiến đấu, trò chơi phong tục. So với lễ, Hội là một yếu tố mở người ta có thể chuyển dịch hoặc thêm bớt các trò chơi do điều kiện vật chất, thời tiết, nhân lực mà vẫn không ảnh hưởng đến tổng thể (trừ những trò chơi nghi lễ, phong tục). Quan hệ giữa lễ và hội có lúc tách rời nhau đến dễ thấy: Một bên là thiêng, một bên là tục; mỗi bên tưởng như có vai trò riêng của mình.
Nhưng trong nhiều trường hợp thì lại không đơn giản như vậy. Trong quá trình vận động, hai yếu tố lễ và hội đã thâm nhập vào nhau một cách chặt chẽ, thiết tưởng rằng gọi là Lễ cũng đúng mà gọi là Hội cũng không sai. Có thể lấy đám rước làm ví dụ, ở đây phần nghi lễ rất nhiều mà phần tham gia biển diễn của đám đông cũng không phải là ít.