Tổng quan nghiên cứu
Theo thống kê của Cục Văn hóa cơ sở, cả nước có 7.965 lễ hội truyền thống, trong đó riêng địa bàn tỉnh Hà Nam sở hữu trên 100 lễ hội làng xã diễn ra hàng năm. Di sản lễ hội đóng vai trò là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn đặc biệt quan trọng, tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển. Tuy nhiên, trước tác động của đô thị hóa và xu hướng thương mại hóa, nhiều lễ hội truyền thống đứng trước nguy cơ mai một hoặc bị phục dựng sai lệch bản sắc, gây ra những hệ lụy tiêu cực trong đời sống tâm linh của cộng đồng và trải nghiệm của du khách.
Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình phục dựng lễ hội truyền thống phục vụ phát triển du lịch tại tỉnh Hà Nam, chọn hai trường hợp điển hình là lễ hội Tịch điền Đọi Sơn tại huyện Duy Tiên và lễ hội phát lương đền Trần Thương tại huyện Lý Nhân. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về di sản lễ hội và tài nguyên du lịch nhân văn; đánh giá toàn diện thực trạng công tác phục dựng hai lễ hội điểm từ năm 2009 đến năm 2014; từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm du lịch lễ hội Hà Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030.
Phạm vi nghiên cứu không gian tập trung tại huyện Duy Tiên và huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, kết hợp khảo sát chuỗi số liệu tăng trưởng du lịch giai đoạn 2000 - 2012. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hiện thực hóa Quyết định số 1393/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam về quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, tạo đòn bẩy hướng tới mục tiêu đón trên 1,5 triệu lượt khách và gia tăng mức đóng góp của ngành dịch vụ vào tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hai trục lý thuyết nền tảng: Lý thuyết tài nguyên du lịch nhân văn của các học giả du lịch học và Lý thuyết bảo tồn di sản văn hóa trên cơ sở kế thừa. Trong cấu trúc tài nguyên du lịch nhân văn, di sản văn hóa phi vật thể nói chung và lễ hội truyền thống nói riêng được nhìn nhận là tài nguyên cốt lõi, có khả năng kích hoạt dòng khách lữ hành và tái tạo năng lượng sống cho cộng đồng. Khái niệm di sản văn hóa được vận dụng theo tinh thần Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), xác định di sản là tập hợp các giá trị tinh thần và vật chất được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Bên cạnh đó, luận văn áp dụng mô hình phân tích cấu trúc lễ hội nhị phân gồm phần Lễ và phần Hội. Phần Lễ mang tính tôn nghiêm, thiêng liêng, thể hiện qua các nghi thức cúng tế, rước kiệu nhằm cầu mong quốc thái dân an, nhân khang vật thịnh. Phần Hội mang tính thế tục, sinh hoạt cộng đồng vui tươi thông qua các trò diễn dân gian. Quan điểm bảo tồn thích nghi định hướng rằng việc phục dựng không chỉ giữ gìn hạt nhân văn hóa nguyên gốc mà còn phải loại bỏ các yếu tố hủ tục, bổ sung các dịch vụ văn minh phù hợp với bối cảnh xã hội hiện đại.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa du lịch học, văn hóa học và xã hội học để có cái nhìn đa chiều về đối tượng nghiên cứu. Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Nam giai đoạn 2000 - 2013, cùng các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Về dữ liệu sơ cấp, tác giả triển khai phương pháp quan sát tham dự trực tiếp tại 2 kỳ lễ hội Tịch điền Đọi Sơn và 2 kỳ lễ hội đền Trần Thương trong giai đoạn 2011 - 2013. Tác giả thực hiện khảo sát chọn mẫu thuận tiện kết hợp phân tầng với cỡ mẫu gồm 120 du khách thập phương và 30 người dân địa phương tại 2 điểm di tích. Phương pháp chọn mẫu này giúp bao quát cả góc nhìn thụ hưởng lẫn chủ thể sáng tạo văn hóa. Lý do lựa chọn kết hợp phân tích định tính và định lượng nhằm kiểm chứng mức độ hài lòng thực tế của du khách với không gian tổ chức, từ đó xây dựng ma trận đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) một cách chuẩn xác.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, việc khôi phục lễ hội Tịch điền Đọi Sơn vào năm 2009 và lễ hội phát lương đền Trần Thương vào năm 2010 đã tạo bước đột phá trong định vị thương hiệu du lịch Hà Nam. Cơ cấu lễ hội toàn quốc ghi nhận 7.039 lễ hội dân gian chiếm 88,36%, và Hà Nam đã nắm bắt đúng xu thế khi chuyển hóa hai lễ hội làng xã thành sự kiện văn hóa cấp vùng, thu hút hàng chục vạn lượt khách mỗi dịp đầu xuân.
Thứ hai, tốc độ tăng trưởng lượng khách du lịch đến Hà Nam trong giai đoạn 2000 - 2010 đạt mức bình quân trên 12%/năm, tuy nhiên cơ cấu chi tiêu và thời gian lưu trú còn nhiều hạn chế. Dữ liệu thực tế cho thấy trên 85% lượng khách đến Hà Nam là khách du lịch nội địa đi trong ngày, mức chi tiêu bình quân ước tính dưới 300.000 đồng/khách/ngày, chủ yếu tập trung vào các dịch vụ công đức và lễ bái cơ bản.
Thứ ba, hệ thống cơ sở hạ tầng du lịch còn mất cân đối nghiêm trọng. Tính đến năm 2012, toàn tỉnh có khoảng 45 cơ sở lưu trú du lịch với hơn 1.100 buồng phòng, nhưng trên 70% số buồng tập trung tại thành phố Phủ Lý, trong khi tại hai huyện trọng điểm lễ hội là Duy Tiên và Lý Nhân chỉ chiếm khoảng 15% tổng lượng buồng phòng đạt chuẩn.
Thảo luận kết quả
Thực trạng du lịch lễ hội Hà Nam phản ánh rõ tính mùa vụ đặc thù, tập trung cao điểm vào quý 1 hàng năm (chiếm trên 60% tổng lượng khách cả năm), dẫn đến tình trạng quá tải hạ tầng cục bộ trong những ngày chính hội nhưng lại vắng vẻ trong suốt các tháng còn lại. Khi so sánh với các nghiên cứu của học giả Bùi Quang Thắng về phục dựng lễ hội đền Lảnh Giang năm 2009 hay nghiên cứu của Dương Văn Sáu năm 2004 về lễ hội trong phát triển du lịch, có thể thấy việc thương mại hóa thiếu kiểm soát dễ làm phai nhạt tính thiêng của nghi lễ. Hiện tượng chen lấn, phát sinh rác thải và tranh cướp lộc từng xuất hiện tại một số thời điểm cho thấy năng lực quản trị điểm đến còn bộc lộ lỗ hổng.
Các phát hiện nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua bảng ma trận SWOT và biểu đồ cột so sánh tốc độ tăng trưởng khách du lịch giai đoạn 2008 - 2012. Biểu đồ chỉ ra rằng nguồn thu du lịch chưa tương xứng với tiềm năng tài nguyên do thiếu chuỗi sản phẩm bổ trợ như làng nghề truyền thống hay ẩm thực đặc sản. Việc phục dựng mới dừng ở khâu tổ chức sự kiện bề nổi mà chưa liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp lữ hành lớn để hình thành tour tuyến cố định.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế quản lý và phân cấp quy hoạch lễ hội. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Nam cần chủ trì xây dựng Quy chế quản lý lễ hội cấp tỉnh trước năm 2016, phân định rõ trách nhiệm giữa chính quyền địa phương và Ban quản lý di tích. Target metric đặt ra là bảo đảm 100% các điểm lễ hội có phương án phân luồng giao thông, giữ vững an ninh trật tự và niêm yết giá dịch vụ công khai.
Thứ hai, đa dạng hóa sản phẩm du lịch bổ trợ nhằm kéo dài thời gian lưu trú. Ủy ban nhân dân huyện Duy Tiên và Lý Nhân cần phối hợp với các hợp tác xã triển khai chương trình liên kết du lịch làng nghề giai đoạn 2015 - 2020. Mục tiêu nâng thời gian lưu trú trung bình của du khách từ 0,8 ngày lên 1,5 ngày vào năm 2020 thông qua việc kết nối lễ hội Đọi Sơn với làng trống Đọi Tam, làng lụa Nha Xá và chuỗi ẩm thực cá kho Nhân Hậu.
Thứ ba, đẩy mạnh xúc tiến quảng bá và liên kết vùng du lịch. Các doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn Hà Nội và vùng đồng bằng sông Hồng cần hợp tác với ngành du lịch Hà Nam định kỳ tổ chức các đoàn khảo sát tuyến điểm từ năm 2015. Mục tiêu tăng tỷ lệ khách mua tour trọn gói lên mức 25% tổng lượng khách, gắn tuyến Đọi Sơn - Trần Thương với quần thể Tam Chúc và chùa Bà Đanh.
Thứ tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và môi trường văn hóa lễ hội. Ủy ban nhân dân các xã sở tại cần tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng đón tiếp du khách cho 100% hộ kinh doanh dịch vụ và người dân tham gia phục vụ lễ hội trong giai đoạn 2015 - 2017. Giải pháp này giúp xóa bỏ tình trạng chèo kéo, bảo tồn không gian diễn xướng dân gian nguyên bản và xây dựng hình ảnh điểm đến văn minh, thân thiện.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, các nhà quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách du lịch cấp tỉnh và huyện. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để tham khảo khi xây dựng các đề án bảo tồn di sản, điều chỉnh quy hoạch du lịch địa phương hướng tới mục tiêu thu hút trên 1,5 triệu lượt khách đến năm 2020.
Thứ hai, các doanh nghiệp lữ hành và đơn vị tổ chức sự kiện văn hóa. Doanh nghiệp có thể sử dụng các phân tích về tài nguyên du lịch nhân văn của Hà Nam để thiết kế các tour chuyên đề du lịch tâm linh, văn hóa ẩm thực và làng nghề với cấu trúc chương trình tối ưu từ 1 đến 2 ngày.
Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Du lịch, Văn hóa học, Việt Nam học. Tài liệu đóng vai trò là một case study chi tiết về phương pháp đánh giá thực trạng phục dựng lễ hội, ứng dụng ma trận SWOT và phương pháp quan sát tham dự trong nghiên cứu thực địa.
Thứ tư, Ban quản lý di tích và cộng đồng cư dân tại các địa phương sở hữu lễ hội. Nghiên cứu mang lại các gợi ý thực hành cụ thể về cách thức điều tiết phần Lễ và phần Hội, giúp cộng đồng bảo vệ tính thiêng của di tích đồng thời khai thác hiệu quả dịch vụ du lịch để tạo sinh kế bền vững.
Câu hỏi thường gặp
Phục dựng lễ hội truyền thống mang lại giá trị kinh tế - xã hội cốt lõi nào cho địa phương? Phục dựng lễ hội giúp tái sinh các giá trị văn hóa lịch sử, giáo dục truyền thống yêu nước và tạo động lực tăng trưởng kinh tế địa phương. Minh chứng tại Hà Nam, việc khôi phục lễ hội Tịch điền từ năm 2009 đã trực tiếp kích cầu thương mại, tạo việc làm thời vụ cho hàng trăm hộ dân và nâng tỷ lệ tăng trưởng khách du lịch bình quân đạt trên 12%/năm.
Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn và đền Trần Thương có đặc trưng gì nổi bật trong tài nguyên du lịch Hà Nam? Hai lễ hội sở hữu giá trị nhân văn độc bản: Tịch điền Đọi Sơn tái hiện phong tục vua đi cày khuyến nông từ thời Tiền Lê năm 987, còn đền Trần Thương lưu giữ nghi lễ phát lương tri ân công đức Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo. Đây là hai sản phẩm du lịch điểm nhấn trong số trên 100 lễ hội truyền thống toàn tỉnh.
Thách thức lớn nhất trong việc thương mại hóa lễ hội phục vụ du lịch tại Hà Nam là gì? Thách thức lớn nhất là nguy cơ làm biến dạng nghi lễ truyền thống và tình trạng quá tải hạ tầng trong mùa cao điểm quý 1. Khảo sát thực tế cho thấy hiện tượng thương mại hóa cục bộ và thiếu hụt cơ sở lưu trú đạt chuẩn (khi trên 70% buồng phòng tập trung ở thành phố) khiến địa phương chưa tối ưu hóa được nguồn thu từ du khách.
Khung pháp lý nào chi phối trực tiếp công tác phục dựng và quản lý lễ hội tại Việt Nam? Hoạt động này chịu sự điều chỉnh của Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi năm 2009), Luật Du lịch năm 2005, Quy chế tổ chức lễ hội năm 2001 của Bộ Văn hóa - Thông tin, cùng Quyết định số 201/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
Làm thế nào để giảm thiểu tính mùa vụ của sản phẩm du lịch lễ hội tại các địa phương? Địa phương cần đa dạng hóa các sản phẩm trải nghiệm quanh năm bằng cách kết nối không gian di tích lễ hội với du lịch làng nghề truyền thống và danh thắng tự nhiên. Ví dụ, việc khai thác không gian chùa Đọi Sơn kết hợp làng trống Đọi Tam giúp duy trì dòng khách tham quan ổn định trong cả 4 quý thay vì chỉ tập trung vào tháng Giêng.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về di sản văn hóa phi vật thể và khẳng định lễ hội truyền thống là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn cốt lõi, giàu sức cạnh tranh.
- Công tác phục dựng lễ hội Tịch điền Đọi Sơn (2009) và lễ hội đền Trần Thương (2010) đã tạo dấu ấn thương hiệu mạnh mẽ, góp phần đưa Hà Nam đón hàng trăm nghìn lượt khách mỗi dịp đầu năm.
- Nghiên cứu chỉ rõ những hạn chế mang tính cấu trúc của du lịch Hà Nam giai đoạn 2000 - 2012, bao gồm tính mùa vụ cao, mức chi tiêu bình quân dưới 300.000 đồng/khách và hạ tầng lưu trú tại các huyện chỉ chiếm khoảng 15%.
- Hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về chính sách, liên kết tour tuyến, hạ tầng và đào tạo cộng đồng đã phác thảo lộ trình rõ ràng nhằm hiện thực hóa mục tiêu đón trên 1,5 triệu lượt khách đến năm 2020.
- Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách; các đơn vị quản lý cần sớm áp dụng các khuyến nghị này vào thực tiễn tổ chức lễ hội và liên kết vùng để thúc đẩy du lịch Hà Nam phát triển bền vững.